So sánh sản phẩm
Hôm nay ngày:

Bài tham luận "Phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái" của Hoàng Đức Chung, P. NVDL sở VHTTDL Nghệ an

Giới thiệu toàn văn bài tham luận: "Phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái" của Hoàng Đức Chung phòng Nghiệp vụ Du lịch, Sở VH,TT&DL tại hội nghị tổng kết hoạt động năm 2015 của Chương trình Con người và sinh quyển Việt Nam do Ủy Ban MAB việt Nam tổ chức.

Du lịch Việt Nam đã có được sự phát triển đáng khích lệ trong những năm gần đây và đang giữ vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên phát triển nhanh và phát triển du lịch đại chúng trong thời gian ngắn cũng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng như tổn hại đến nguồn tài nguyên tự nhiên, ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng không tốt đến văn hóa bản địa. Trong “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” đã xác định quan điểm “phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội” bên cạnh quan điểm “phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc”.

Theo đó, phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái đang là hướng đi phù hợp, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc này.

Đặt vấn đề

Nghệ An là một tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, có tọa độ địa lý từ 18033' đến 20000' vĩ độ Bắc và 103052' đến 1050 48' kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông và phía Tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào với 419 km đường biên giới. Tỉnh Nghệ An có diện tích 16.498 km2, dân số gần 3 triệu người với 6 dân tộc Kinh, Thái, Thổ, H’ Mông, Khơ Mú, Ơ Đu. Cơ cấu hành chính của Nghệ An gồm 01 thành phố tỉnh lỵ, 03 thị xã, 17 huyện với 473 xã, phường và thị trấn trong đó có 244 xã, thị trấn miền núi.

Khu DTSQ Tây Nghệ An được UNESCO chính thức công nhận năm 2007 là khu DTSQ trên cạn  lớn nhất Việt Nam, có diện tích 1.303.285 ha, nằm trên địa bàn 9 huyện miền núi (Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dương, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Kỳ Sơn,Thanh Chương, Tân Kỳ). Khu DTSQ được thiết kế phù hợp với tiêu chí thực hiện 3 chức năng của một khu DTSQ thế giới và chiến lược phát triển bền vững của quốc gia và UBND Tỉnh trong việc thực hiện công ước đa dạng sinh học và Agenda 21.

Với mục tiêu chính là tăng thêm thu nhập cho cộng đồng, bảo tồn và phát triển các tài nguyên tự nhiên, văn hóa của địa phương, tăng cường năng lực và tăng thêm quyền cho cộng đồng địa phương, phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở kinh doanh du lịch, tạo sự hiểu biết giữa dân cư địa phương và khách du lịch, phát triển du lịch giữa trên việc bảo tồn văn hóa dân tộc Thái đang ngày càng khẳng định vai trò của mình. Đối với Việt Nam dân tộc Thái chiếm 1,74% dân số cả nước, người Thái ở Việt Nam có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Theo thống kê của Ban dân tộc và miền núi tỉnh Nghệ An, tính đến giữa năm 2009, người Thái ở miền Tây Nghệ An có 303.882 người, chiếm 69,39% dân số đồng bào các dân tộc thiểu số toàn tỉnh và 64% dân số sống trong khu DTSQ Tây Nghệ An. Với những nét văn hóa đặc sắc, cộng đồng người Thái đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạt động phát triển khu vực này.

Tổng quan về phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa

Vai trò của việc phát huy các giá trị văn hoá và vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch, Nhà nước Việt Nam luôn xác định phát triển du lịch phải gắn liền với mục tiêu tạo bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá góp phần phát triển bền vững. Tư tưởng này đã được cụ thể hoá trong nội dung của Pháp lệnh Du lịch, 1999, theo đó : “Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hoá sâu sắc” ; đồng thời “bảo đảm phát triển du lịch theo hướng du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam” cũng như trong Luật Du lịch, 2005, theo đó một trong những nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch là “phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hóa – lịch sử, …. bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch”. Dựa trên quan điểm về phát triển bền vững và kế thừa những tư tưởng và kết quả đạt được từ Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2001-2010, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đưa ra một số quan điểm phát triển trong đó quan điểm về “Phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống dân tộc..tôn trọng văn hoá trong mối quan hệ với cộng đồng điểm đến…”; “Phát triển du lịch gắn với giảm nghèo..” được nhấn mạnh.       

Để thực hiện những quan điểm trên, Chiến lược về tổ chức lãnh thổ du lịch trong giai đoạn tới sẽ tập trung vào một số địa bàn trọng điểm, trong đó có những địa bàn ưu tiên nơi có tiềm năng du lịch, đặc biệt về văn hoá truyền thống song cuộc sống của cộng đồng còn nhiều khó khăn như địa bàn miền núi phía Tây tỉnh Nghệ An. Bản sắc văn hoá các dân tộc Thái, Hmông, Khơ - mú, Thổ và Ơ - đu cùng với các giá trị nổi bật của khu sinh quyển về diện tích (là khu DTSQ lớn nhất khu vực Đông Nam Á với tổng diện tích 1.303.285ha); về đa dạng sinh học  có 2500 loài thực vật, 1000 loài động vật, trong đó nhiều loài quý hiếm, đặc hữu, sự đa dạng hệ sinh thái tạo ra nhiều sinh cảnh tự nhiên (như thác Sao Va, thác Khèm, Hang Bua, Suối nước mọc, ….), nhân tạo (như thủy điện Bản vẽ, Khe Bố, Hủa Na, đập Phà Lài,..) là tiền đề quan trọng để miền Tây Nghệ An phát triển du lịch dựa vào bản sắc các dân tộc trong vùng, đồng thời với việc nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học.



Ảnh: Tung Kiệu của Tác giả Nhật Thành (Nguồn Sở VH,TT&DL)

Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1997, trải qua gần hai thập kỷ hình thành và phát triển, du lịch cộng đồng đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho người dân địa phương. Du lịch cộng đồng gắn với nhiều hoạt động như tham quan các làng nghề cổ, khám phá núi rừng thiên nhiên, tìm hiểu văn hóa các dân tộc..., trong đó, tiêu biểu nhất là loại hình homestay - hình thức khách du lịch đến ở nhà người dân địa phương để cùng ăn, nghỉ, tham gia các công việc hàng ngày cũng như các hoạt động văn hóa, văn nghệ. Hiện mô hình này đã được áp dụng phổ biến và khá thành công ở 3 tỉnh Hà Giang, Lào Cai và Điện Biên, thu hút rất nhiều du khách, đặc biệt là khách quốc tế.    

Đã có nhiều khái niệm về du lịch cộng đồng được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu. Những khái niệm này được sử dụng khá linh hoạt và được thay đổi tùy thuộc vào tác giả, địa điểm và các công trình nghiên cứu cụ thể, song các vấn đề về bền vững và cộng đồng địa phương là những nội dung chính được xem xét, đề cập.

Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mang lại cho du khách những trải nghiệm về bản sắc cộng đồng địa phương, trong đó cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, được hưởng lợi ích kinh tế - xã hội từ hoạt động du lịch và có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường, bản sắc văn hóa cộng đồng.

Như vậy có thể hiểu, du lịch cộng đồng là phương thức phát triển du lịch bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp và chủ yếu vào các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch. Cộng đồng nhận được sự hợp tác hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn văn hóa bản địa, khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững.

Mối liên hệ giữa phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái

Muốn phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái cần phải có những cơ sở nhất định được coi là tiền đề. Một trong những tiền đề quyết định đó chính là văn hóa. Sự tồn tại lâu bền của các di sản văn hóa chính là yếu tố quyết định cho sự phát triển không ngừng của du lịch văn hóa gắn với cộng đồng bản địa. Các di sản văn hóa chính là tài sản của cộng đồng, nó được cộng đồng tạo dựng và gìn giữ, trao truyền liên tục cho các thế hệ kế tiếp. Nó được xem như là vốn đầu tư cơ bản cho du lịch cộng đồng phát triển.

Ngược lại, phát triển du lịch cộng đồng là một trong những biện pháp cơ bản, hữu hiệu giúp cho công tác bảo tồn văn hóa đạt hiệu quả cao. Phát triển du lịch cộng đồng góp phần quảng bá văn hóa, hình ảnh của địa phương thông qua sự trải nghiệm của du khách và ấn tượng của họ về văn hóa địa phương. Hoạt động du lịch cộng đồng biến các di sản văn hóa bản địa thành hàng hóa, phát triển các giá trị của văn hóa theo hướng tích cực, nâng các giá trị văn hóa lên một tầm cao mới không chỉ góp phần nâng cao đời sống tinh thần mà còn nâng cao đời sống vật chất cho cộng đồng địa phương.

Dân số người Thái ở Việt Nam chỉ đứng sau dân tộc Kinh và dân tộc Tày. Riêng ở Nghệ An người Thái chiếm khoảng 70% dân số các dân tộc ít người. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Lộc: Đây là “vùng có những yếu tố văn hóa truyền thống vừa mang tính thống nhất của văn hóa Thái, vừa mang tính đặc thù của địa phương do điều kiện sống và quá trình giao tiếp văn hóa với các dân cư kề cận (văn hóa Việt Mường, văn hóa Môn – Khơme, văn hóa Lào)” [Nguyễn Đình Lộc 1993].

Trong dân tộc Thái phân thành hai nhóm Thái khác nhau là Thái Đen và Thái Trắng, chủ yếu dựa vào trang phục của phụ nữ. Thái Trắng cư trú đông nhất ở Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình còn gọi là Tày Đón hoặc Tày Khao. Tộc người Thái ở Nghệ An thuộc nhóm Thái Đen, địa bàn cư trú chủ yếu ở Lai Châu, Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, còn gọi là Tày Thanh, Tày Mười và Tày Khăng. Truyền thuyết dân gian cho thấy rằng, những người Thái đầu tiên là nhóm có số dân đông nhất cư trú chủ yếu dọc đường 48 thuộc các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn. Người ta gọi nhóm dân cư này là Hàng Tổng, có nơi gọi là Tày Mường, Tày Chiềng. Nhóm Tày Mường có mặt sớm nhất là vào thế kỷ XIII-XIV, lịch sử cuộc khởi nghĩa Lam Sơn còn ghi lại công lao to lớn của Cầm Quý – người đứng đầu đồng bào Thái ở vùng Quỳ Hợp tham gia vào cuộc chiến đấu, bảo vệ và giải phóng thành Trà Lân. Sử sách còn lưu rõ: “Khi Lê Lợi đem quân vào Nghệ An, Cầm Quý đã đem toàn bộ đội dân binh gia nhập nghĩa quân”. Truyền thuyết Mường Nọc còn kể lại rằng, Qùy Châu là nơi cư trú, tự cư của đồng bào Tày Mường, vì vậy ngày nay dân cư vùng này luôn tự nhận mình là người Quỳ Châu chứ không phải là Quế Phong. Từ Thần phả ở đền chín gian ở Mường Nọc cho thấy, họ Cầm đã đưa các dòng họ khác của người Thái từ Tây Bắc, qua Lào vào Quỳ Châu, tính đến lúc Pháp xâm lược nước ta đã qua 17 đời làm tạo mường kiêm “chẩu hua” (làm chủ phần hồn).

Từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII – XVIII ngoài bộ phận người Thái đã định cư từ trước, nơi đây còn được bổ sung liên tục bằng các đợt thiên di của người Thái từ Tây Bắc qua Thanh Hóa vào Phủ Quỳ, đến con Cuông, vùng hạ Tương Dương. Bộ phận người Thái từ Lào tràn xuống theo dòng Nậm Mô và các thung lũng hẹp ở Kỳ Sơn, Quỳ Hợp, Quế Phong và sang Xiêng My, Xiêng Men (Tương Dương). Các cuộc di cư đã biến vùng Phủ Quỳ thành trung tâm của người Thái ở Nghệ An. Cùng với các luồng di cư là các luồng văn hóa khác nhau du nhập vào tạo thành một cộng đồng người Thái đặc trưng ở Tây Nghệ An.

Như vậy, từ lịch sử xuất hiện của cộng đồng các dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An, đến các cuộc đấu tranh bảo vệ bờ cõi qua các triều đại đều có dấu ấn trong văn hóa người Thái, đặc biệt sự đan xen của yếu tố văn hóa Thái theo dòng lịch sử đã ảnh hưởng mạnh (đến mức độ đồng hóa một phần các dân tộc khác như  dân tộc Thổ, dân tộc Ơ Đu) có thể khẳng định sự phát triển của miền Tây luôn gắn bó mật thiết với sự phát triển của cộng đồng dân tộc Thái mà cụ thể là giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc Thái.



Ảnh: Rừng nhiệt đới thường xanh nguyên sinh dọc Khe Thơi

Thực trạng phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái

Người Thái ở khu DTSQ miền Tây Nghệ An cư trú theo 2 trục đường chính, trục thứ nhất cư trú theo dọc sông Cả (Nậm Mộ, Nậm Nơn), sông Giăng dọc theo Quốc lộ 7; trục còn lại cư trú dọc theo các con sông Nậm Hạt, sông Nậm Việc, sông Nậm Giải theo Quốc lộ 48. Người Thái ở miền Tây Nghệ An hiện có 284.119 người chiếm 70,20% dân số trên tổng số 43 vạn đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi Nghệ An. Ở đây vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc trưng của cộng đồng.

Tuy số lượng khách đến với Khu DTSQ Tây Nghệ An ngày càng tăng trong năm 2015 ước khoảng gần 5.500 lượt khách đây vẫn còn là con số khiêm tốn so với các Khu DTSQ khác. Riêng đối với Ban quản lý VQG Pù Mát từ năm 2012 đến nay đã có trên 20 ngàn lượt khách tham quan, trong đó khách nội địa 20.141 lượt khách. Số lượng khách lưu trú có tăng trong những năm vừa qua song khách đến lưu trú trong thời gian rất ngắn, chủ yếu là nghỉ lại một đêm. Có đoàn khách đến chỉ đơn thuần là ngủ đêm, có đoàn khách thì sử dụng dịch vụ ăn tối tại nhà dân, xem biểu diễn văn nghệ (rất ít). Hầu hết các đoàn tự phát và chưa có các công ty du lịch dẫn khách đến theo lịch trình. Với thời gian lưu lại ngắn nên khách du lịch ít sử dụng các dịch vụ khác tại cộng đồng nên chi tiêu của khách du lịch tại cộng đồng còn rất khiêm tốn. Mặc dù vậy, hiệu quả kinh tế mà loại hình du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái mang lại cho bà con là không thể phủ nhận.

Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch cộng đồng còn khá khiêm tốn. Khai thác phục vụ khách du lịch mới chỉ tập trung tại Ban quản lý VQG Pù Mát và huyện Con Cuông. Hiện tại VQG đang nâng cấp hệ thống nhà nghỉ tại vườn có thể đáp ứng được 30 – 40 phòng nghỉ khi khách có nhu cầu, ngoài ra huyện có 15 cơ sở lưu trú du lịch, nhà nghỉ phục vụ khách du lịch. Số lượng nhà dân làm du lịch cộng đồng cũng chưa nhiều, hiện nay chỉ có tại Bản Nưa tại xã Yên Khê, hiện nay chỉ có khoảng 10 nhà đã sửa sang nhà cửa cho việc đón khách lưu trú, cơ bản các nhà sàn còn lưu giữ được nếp nhà truyền thống đúng với bản sắc văn hóa của cộng đồng. Từ năm 2011, với sự giúp đỡ của UNESCO, mô hình du lịch cộng đồng găn với văn hóa dân tộc đã được triển khai nhằm phát huy những thế mạnh về thiên nhiên và con người nơi đây.

Tham gia chương trình du lịch cộng đồng, du khách có cơ hội tham quan, tìm hiểu tập quán canh tác, tập tục sinh hoạt của người dân địa phương, khám phá các nét văn hóa truyền thống đặc sắc của mỗi vùng miền. Đặc biệt là các vùng chưa có sự tác động quá lớn của nền kinh tế thị trường, những vùng có người dân nghèo, các dân tộc thiểu số đang sinh sống.

Thời gian vừa qua tổ chức JICA đã hỗ trợ Nghệ An trong việc phát triển nông nghiệp nông thôn Nghệ An, bắt đầu từ tháng 10/2015 – 2018 tổ chức JICA sẽ hỗ trợ Nghệ An trong việc phát triển du lịch gắn với đa dạng hóa sinh kế nông lâm ngư nghiệp Nghệ An. Hiện nay UBND tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng đề án phát triển du lịch miền Tây Nghệ An, trong đó nhấn mạnh để phục vụ phát triển du lịch cộng đồng và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc tại khu dữ trữ sinh quyển. Hiện nay các dịch vụ du lịch còn thiếu và yếu tại Vườn quốc giá Pù Mát và 02 khu bảo tồn thiên nhiên (Pù Huống và Pù Hoạt). Ngoài việc khai thác các sản phẩm du lịch tại Vườn quốc gia Pù Mát (Phòng trưng bày gene, trung tâm cứu hỗ động vật) ngoài ra tham quan Thác Khe Kèm, Đập Phà Lài. Bên cạnh các sản phẩm tài nguyên thuộc khu Rừng Săng Lẻ, Tam Quang, Đập thủy điện Bản vẽ, Thác XaoVa, lòng Hồ Hủa Na và một số di tích, đền chùa đã được xếp hạng... Ngoài ra du khách có thể thoải mái tìm đến các địa chỉ du lịch văn hóa, cảnh quan độc đáo như quần thể khu du lịch tại Môn Sơn; Làng nghề thổ cẩm Yên Thành - Lục Dạ; thành Trà Lân, bia Ma Nhai, hang Ông Trạng, đền Cửa Sót, đền Cửa Lũy, làng nghề mây tre đan xuất khẩu; Khe nước mọc, hang Thắm Nàng Màn, Hang Ốc; hang động tại Tam Đình; đỉnh Khe Thơi, đỉnh Pù Mát; đền 9 gian, bản Thái cổ Hủa Mương; các điểm du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần bên thác Suối Pa, Suối nước nóng, cửa khẩu Thông Thụ. Các điểm du lịch sinh thái: thác 7 Tầng, Du lịch mạo hiểm, leo núi Pù Hoạt kết hợp với du lịch văn hóa: Tổ chức tour du lịch thăm bản người H’Mông ở xã Tri Lễ, leo núi Pù Hoạt... Đó là chưa kể các điểm du lịch lễ hội nổi tiếng như: Lễ hội Đền 9 gian (Quế Phong); Lễ hội Hang Bua (Quỳ Châu); Lễ hội Mường Ham (Quỳ Hợp); Lễ hội Đền Choỏng (Quỳ Hợp). Về cơ bản tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên chất lượng đầu tư để khai thác các dịch vụ đi kèm nơi đây còn đơn điệu. Một số nhận thức của cộng đồng về du lịch còn rất hạn chế. Năng lực của cộng đồng trong hoạt động kinh doanh du lịch chưa cao. Kỹ năng nghề còn yếu, chưa có trình độ ngoại ngữ dẫn đến khó khăn trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nguồn nhân lực chủ yếu được tập huấn qua các lớp ngắn hạn nên chất lượng chưa cao. Hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch chưa hiệu quả.

Một số giải pháp phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái

Cộng đồng người bên quốc lộ 7 qua các huyện Con Cuông, Tương, Dương, Kỳ Sơn và quốc lộ 48 qua các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong họ sinh sống chủ yếu bằng nghề nông – lâm nghiệp, đời sống còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, của quá trình đô thị hóa nên đồng bào Thái với rất nhiều nét văn hóa truyền thống đã bị biến đổi, mai một dần, nhiều phong tục gần như mất hẳn. Việc phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái ở đây là việc làm không mới nhưng cần thiết để tạo ra sinh kế cho người dân địa phương vừa góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên, vừa góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống bản địa.

(1) Xây dựng cơ chế quản lý phù hợp: 

Phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái là loại hình du lịch có sự khác biệt lớn so với các loại hình du lịch khác vì có sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các hoạt động du lịch. Khách du lịch được cùng ăn - cùng ở - cùng sinh hoạt với người dân, được trải nghiệm văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực của cộng đồng và bảo tồn giữ gìn bản sắc, phong tục tập quán của người Thái tại Khu DTSQ Tây Nghệ An. Nó có thể gây ra tác động rất lớn đối với đời sống và nền văn hóa bản địa của cộng đồng người Thái nơi đây. Bởi vậy, loại hình du lịch này cần được tổ chức và quản lý một cách cẩn thận với một chính sách quản lý phù hợp, đòi hỏi sự hợp tác, đồng thuận của tất cả các bên có liên quan trong đó vai trò của cộng đồng là vô cùng quan trọng, tránh những tác động xấu không cần thiết đến cuộc sống của cộng đồng địa phương.

(2) Nâng cao năng lực của cộng đồng trong các hoạt động du lịch:

Đây  là vấn đề then chốt nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, đặc sắc và có chất lượng từ đó tạo ấn tượng tốt để thu hút khách du lịch, đồng thời từ đó kéo dài ngày lưu trú, tăng mức chi tiêu của du khách tại địa phương nhằm tối đa hóa doanh thu cho cộng đồng. Cụ thể nâng cao năng lực của cộng đồng bao gồm:

 + Nâng cao các kỹ năng cung cấp các dịch vụ du lịch cơ bản như dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ hướng dẫn.

+ Nâng cao năng lực về tổ chức quản lý hoạt động du lịch cho cộng đồng.

+ Nâng cao khả năng về tài chính để phát triển sản phẩm du lịch tại điểm đến.

(3) Phát triển nguồn nhân lực: 

Dựa vào thực trạng và nhu cầu của hoạt động kinh doanh du lịch cộng đồng mà chúng ta đưa ra kế hoạch để đào tạo đội ngũ nhân lực phục vụ cho loại hình du lịch này. Để chương trình đào tạo thu được kết quả tốt thì phải có sự liên kết của nhiều tổ chức như sự kết hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, chính quyền địa phương, người dân địa phương và các tổ chức phi chính phủ, cơ sở đào tạo, công ty lữ hành… Nội dung của chương trình học nên bao gồm ba phần: một là kỹ năng cơ bản (giao tiếp, ứng xử,…); hai là nghiệp vụ chuyên ngành (nghiệp vụ buồng, nghiệp vụ nhà hàng, nghiệp vụ hướng dẫn, nghiệp vụ đón tiếp khách, nghiệp vụ chế biến món ăn,…); ba là ngoại ngữ trong đó ưu tiên tiếng Anh và tiếng Pháp. Ngoài ra, một phần không thể thiếu trong chương trình học, đó chính là việc giáo dục người dân ý thức bảo vệ môi trường và đặc biệt là văn hóa bản địa. Bên cạnh đó hướng du khách học ngôn ngữ địa phương (tiếng Thái của đồng bào khu sinh quyển) dễ dàng trong việc giao tiếp và am hiểu thêm về phong tục tập quán, cách sinh hoạt của địa phương.

(4) Tổ chức quy hoạch hợp lý:

Loại hình du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái là loại hình du lịch nhạy cảm với cuộc sống hiện tại và văn hóa truyền thống của người dân bản địa nên cần có sự nghiên cứu, cân nhắc, lựa chọn cẩn trọng những khu vực có thể phát triển du lịch cộng đồng. Trong quy hoạch nhất thiết phải có sự tham gia đóng góp ý kiến của người dân địa phương và ý kiến của họ phải được tôn trọng. Chúng ta không nên và không cần thiết phải phát triển du lịch ở tất cả các bản. Làm được điều này chúng ta vừa hạn chế được những tác động của hoạt động du lịch tới cuộc sống và văn hóa của cộng đồng vừa bảo tồn được bản sắc địa phương. Chúng ta chỉ nên lựa chọn một bản đặc trưng, điển hình để đưa vào phát triển.

Quy hoạch du lịch cộng đồng phải đặt trong quy hoạch du lịch tổng thể của cả tỉnh và cả vùng du lịch Bắc Trung Bộ để từ đó, liên kết với các điểm du lịch khác trong tỉnh, trong vùng nhằm bổ sung tính phong phú, hấp dẫn cho điểm du lịch này.

(5) Nâng cao nhận thức cho cộng đồng: 

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho cộng đồng gìn giữ và khôi phục đời sống văn hóa, nghệ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, kiến trúc nhà ở, các nghề thủ công truyền thống của dân tộc mình. Cộng đồng phải hiểu sâu sắc rằng những yếu tố này mới chính là những yếu tố thu hút khách du lịch đến với cộng đồng. Là những yếu tố cần được bảo về vì lợi ích lâu dài không chỉ cho phát triển du lịch mà còn vì các lợi ích văn hóa khác nữa. Nếu không lưu giữ và khôi phục lại thì không thể phát triển và phát triển một cách bền vững được.

(6) Khai thác kết hợp với bảo tồn tài nguyên du lịch: 

Vốn dĩ chưa có mặt của ngành kinh tế du lịch thì nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn của địa phương cũng đang dần bị xâm phạm bởi sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên nếu không có kế hoạch bảo vệ ngay từ bây giờ thì e rằng không còn kịp nữa. Một khi du lịch phát triển mạnh, số lượng khách du lịch tăng lên, trong khi không có kế hoạch bảo về tài nguyên sẽ để lại hậu quả khó lường. Để trách tình trạng này xảy ra cần phải thực hiện một số biện pháp sau:

+  Cấm chặt phá rừng bừa bãi, cấm săn bắt động thực vật quý hiếm. Thực hiện trồng rừng và quản lý rừng.

+ Bảo vệ nghiêm ngặt các nguồn nước, tránh xả rác và các chất thải sinh hoạt, sản xuất ra suối, ao, hồ.

+ Xem xét, nghiên cứu, thực thi và tôn trọng sức chứa của vùng và từ đó đưa ra kế hoạch đón khách phù hợp nhằm phát triển bền vững. Sức chưa tối đa nên là 2 khách/1 người dân.

+ Giáo dục khách du lịch và cộng đồng ý thức bảo vệ cảnh quan môi trường. Chương trình tuyên truyền giáo dục phải được thực hiện liên tục, có hệ thống đến từng nhà, từng người.

+ Nghiên cứu, khôi phục và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đã bị mai một như các lễ hội, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ,...

+ Phục dựng các ngôi nhà sản cổ của người Thái với vật liệu phù hợp với cảnh quan, môi trường.

+ Khôi phục lại các sinh hoạt văn nghệ truyền thống hàng ngày, các lời ca, điệu múa cổ của người Thái.

+ Sử dụng các loại nhạc cụ truyền thống trong các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ.

+ Giáo dục cộng đồng địa phương có ý thức xây dựng và giữ gìn nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng người Thái.

+ Giáo dục du khách tôn trọng văn hóa truyền thống của cộng đồng. Đặc biệt là khi khách có cơ hội cùng ăn - cùng ở - cùng sinh hoạt với người dân thì lại càng phải tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng.

Nếu như các giải pháp trên được thực hiện đồng bộ, chắc chắn rằng việc phát triển du lịch dựa trên bảo tồn văn hóa dân tộc Thái ở khu dữ trữ sinh quyển Tây Nghệ An sẽ bền vững và phát triển đem lại hiệu quả đa chiều, hoàn thành mục tiêu bản tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng người Thái nơi đây./.
Hoàng Đức Chung – Thư ký BQL - Phòng Nghiệp Vụ Du lịch, Sở VH,TT&DL Nghệ An,
Tags:
Tin cùng danh mục
  • Khai hội Môn Sơn - Lục Dạ

  • Độc đáo trò chơi dân gian Vật Cù trong Lễ hội đền Bạch Mã

  • Độc đáo món măng trộn tro bếp của người Khơ Mú

X

Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An

Bạn cần tư vấn ?

Chat Facebook