So sánh sản phẩm
Hôm nay ngày:

GIÁO DỤC VÌ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG - MỘT CÁCH NHÌN MỚI

Tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của LHQ ở Rio de Janeiro, những người đứng đầu các quốc gia, các tổ chức Phi Chính phủ và tổ chức đoàn thể nhân dân đã cùng nhau trao đổi về những thách thức đặt ra cho thế kỉ mới; đồng thời xây dựng một kế hoạch hành động toàn cầu để đón đầu Thập kỉ này. Kế hoạch hành động này, được biết đến nhiều hơn với tên gọi Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) gồm 40 chương đã xây dựng một hệ thống các nguyên tắc toàn diện nhằm hỗ trợ cho Chính phủ các nước và các tổ chức thực hiện chương trình và chính sách PTBV.

 Những ý tưởng Giáo dục vì Sự phát triển Bền vững  (Giáo dục vì PTBV ) ban đầu được thể hiện trong Chương 36 của Chương trình Nghị sự 21 này với tên gọi  “Tăng cường giáo dục, đào tạo và nhận thức của cộng đồng”. Chương này chỉ ra vai trò của giáo dục trong quá trình tìm kiếm một cách thức phát triển theo hướng tôn trọng và bảo vệ môi trường tự nhiên, chú trọng tầm quan trọng của công tác định hướng và định hướng lại giáo dục nhằm tôn vinh các giá trị và hành vi tôn trọng môi trường; đồng thời vạch ra đường lối thực hiện công tác đó.

 Sau Hội nghị về Môi trường và Phát triển của LHQ, Uỷ ban Phát triển Bền vững đã chỉ định Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) là cơ quan đặc trách việc thực hiện Chương 36. Theo đó, UNESCO chịu trách nhiệm thúc đẩy các chương trình cải cách giáo dục và điều phối hoạt động của các đối tác. UNESCO cũng có trách nhiệm cung cấp hỗ trợ chuyên môn và kĩ thuật cho các quốc gia thành viên; xây dựng chương trình giảng dạy mẫu và tài liệu đào tạo; đồng thời phổ biến các chính sách; chương trình và kinh nghiệm thực hiện Giáo dục vì PTBV  tiến bộ.

 Tại Diễn đàn Giáo dục Thế giới được tổ chức vào tháng 4/2000 ở Dakar, Senegal, cộng đồng thế giới một lần nữa khẳng định lại tầm nhìn của Tuyên bố Thế giới về Giáo dục cho Mọi người (GDCMN), đã được thông qua vào năm 1990 ở Jomtien, Thái Lan; đồng thời thể hiện cam kết thực hiện tất cả các mục tiêu và mục đích của GDCMN cho mọi công dân và mọi xã hội. Nhất quán với Tuyên bố Toàn cầu về Nhân quyền và Tuyên bố Thế giới về Giáo dục cho Mọi người, Diễn đàn Giáo dục Thế giới đã khẳng định giáo dục là một quyền cơ bản của con người và là chìa khoá của phát triển bền vững, hoà bình, ổn định, tăng trưởng kinh tế xã hội và xây dựng đất nước.

 Tại Hội nghị Thượng đỉnh Johannesburg diễn ra vào năm 2002, tầm nhìn về PTBV đã được mở rộng. Đó là: để đạt được bền vững thì phải đạt được công bằng xã hội và đấu tranh chống đói nghèo và đây được xem là những nguyên tắc cơ bản của phát triển. Các phương diện phát triển bền vững liên quan đến con người và xã hội bao gồm: đoàn kết, bình đẳng, liên kết và hợp tác. Những nhân tố này cũng có vai trò quyết định như các phương pháp khoa học trong bảo vệ môi trường. Bên cạnh việc khẳng định lại những mục tiêu giáo dục của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỉ và Khuôn khổ hành động Dakar – Giáo dục cho Mọi người, Hội nghị Thượng đỉnh này đã đề xuất với Đại Hội đồng LHQ “xem xét thông qua việc triển khai một Thập kỉ Giáo dục vì sự Phát triển Bền vững, bắt đầu từ năm 2005”. Đây được coi là một cách thức khẳng định học tập và giáo dục chính là phương phát tiếp cận nòng cốt của PTBV.

 Ngày 20 tháng 12 năm 2002, Đại Hội đồng LHQ đã nhất trí thông qua Nghị quyết 57/254 về việc triển khai một Thập kỉ Giáo dục vì Sự Phát triển Bền vững (Thập kỉGiáo dục vì PTBV ), bắt đầu từ ngày 1/1/2005. Nghị quyết này đã được Chính phủ Nhật Bản và 46 quốc gia đồng tài trợ giới thiệu. Đại Hội đồng LHQ chỉ định UNESCO là cơ quan chịu trách nhiệm triển khai các hoạt động của Thập kỉ, đồng thời xây dựng một Kế hoạch Triển khai toàn cầu.

 Với vai trò là cơ quan đi đầu trong các hoạt động về giáo dục của LHQ, UNESCO đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng các tiêu chuẩn về chất lượng trong Giáo dục vì PTBV . Việc làm này đòi hỏi cần có sự định hướng lại các chương trình hoạt động của UNESCO, trong đó có những thay đổi cần thiết để thúc đẩy PTBV. Nâng cao chất lượng giáo dục và định hướng lại các mục tiêu nhằm nêu cao vai trò quan trọng của PTBV phải là một trong những ưu tiên hàng đầu của UNESCO và toàn thế giới.

 8.2. Mục đính, tầm nhìn và các lĩnh vực cơ bản

 Mục đích của giáo dục vì phát triển bền vững là nhằm thay đổi hành vi tạo nên xã hội bền vững cho tất cả mọi người trên cơ sở kết nối kinh tế xã hội, môi trường, văn hoá thông qua sự tác động tới mọi mặt của đời sống xã hội với mục tiêu tích hợp các giá trị phát triển bền vững vào trong tất cả các lĩnh vực học tập. Tầm nhìn của giáo dục vì phát triển bền vững là một thế giới mà ở đó tất cả mọi người đều có cơ hội được hưởng lợi từ giáo dục, học tập các giá trị, hành vi và cách sống tiến tới một tương lai bền vững. Sự chuyển biến này thể hiện ở các mục tiêu:

 -     Nâng cao vai trò trung tâm của giáo dục và học tập trong bối cảnh chung của phát triển bền vững;

 -     Xây dựng mạng lưới và các liên kết, trao đổi giữa các bên tham gia trong giáo dục vì phát triển bền vững;

 -     Nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập trong giáo dục vì phát triển bền vững;

 -     Phát triển chiến lược củng cố tiềm năng giáo dục vì phát triển bền vững ở tất cả các cấp.

 Giáo dục vì phát triển bền vững thể hiện ý nghĩa và mục tiêu của phát triển bền vững với ba lĩnh vực cơ bản:

 -     Xã hội: Sự hiểu biết về thể chế xã hội và vai trò của nó trong quá trình thay đổi và phát triển, tạo ra xã hội dân chủ tạo cơ hội cho mọi người biểu lộ quan điểm, lựa chọn cán bộ, hiệp thương và những sự khác nhau về giải pháp;

 -     Môi trường: Nhận thức về tài nguyên và tính dễ tổn thương của môi trường thiên nhiên cũng như những tác động của nó lên các hoạt động và các quá trình ra quyết định của con người, với sự cam kết đưa các mối quan tâm môi trường vào trong quá trình phát triển kinh tế xã hội;

 -     Kinh tế: Hiểu biết về sự tác động của phát triển kinh tế lên môi trường và xã hội, cũng như những vấn đề về xã hội tiêu thụ, sở thích cá nhân liên quan đến những vấn đề môi trường.

 Giáo dục vì phát triển bền vững thể hiện mối quan tâm của giáo dục chất lượng cao, bao gồm:

 -     Liên ngành, liên môn: những nguyên lý và kiến thức về phát triển bền vững được thể hiện trong chương trình, sách giáo khoa của các môn học tự nhiên, xã hội và nghệ thuật chứ không hình thành một môn học riêng về phát triển bền vững;

 -     Thể hiện giá trị: chia sẻ các giá trị và nguyên lý phát triển bền vững;

 -     Tư duy sáng tạo và giải quyết tình huống có vấn đề: tạo niềm tin trước những khó khăn và thách thức của phát triển bền vững;

 -     Quyết đinh có sự tham gia: người học được tham gia trong quá trình ra quyết định và họ được học như thế nào;

 -     Đa dạng phương pháp: ngôn từ, nghệ thuật, kịch, tranh luận, trao đổi kinh nghiệm...các phương pháp sư phạm khác nhau cho mô hình hoá các quá trình;

 -     Khả năng áp dụng: học tập kinh nghiệm được tích hợp trong cuộc sống hàng ngày, trong cuộc sống của mỗi con người, mỗi hoạt động nghề nghiệp;

 -     Thích hợp với địa phương: đáp ứng những vấn đề địa phương cũng như toàn cầu, sử dụng những ngôn ngữ mà người họ thường xuyên sử dụng.

[Upload]  Home stay - Một loại hình du lịch kết nối khách du lịch và cộng đồng qua trải nghiệm thực tế

Giáo dục vì phát triển bền vững đề cập đến tất cả các lĩnh vực nhân văn, áp dụng và tạo nên một diện mạo mới cho thế giới đang thay đổi: quyền con người, hoà bình và an ninh nhân loại, công bằng giới, đa dạng văn hoá và sự hiểu biết các nền văn hoá khác nhau, sức khoẻ, HIV/AIDS, lãnh đạo, tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu, phát triển nông thôn, đô thị hoá bền vững, phòng ngừa và hạn chế thảm hoạ, giảm đói nghèo, nâng cao trách nhiệm và kinh tế thị trường.

 Mối tương quan giữa giáo dục và PTBV

 Có thể coi giáo dục là một phần không thể thiếu của một chiến lược PTBV vì con người là trung tâm của sự phát triển và giáo dục có thể mang lại những thay đổi cơ bản do các thách thức của sự bền vững đặt ra. Cùng với những hoạt động tích cực về mặt tinh thần, giáo dục là cơ hội tốt nhất giúp chúng ta thúc đẩy những giá trị và hành vi cần thiết cho PTBV. Để thúc đẩy tiến trình hướng tới một sự bền vững, đòi hỏi chúng ta phải quan tâm hơn nữa tới mối tương quan giữa con người và thế giới tự nhiên; đồng thời khuyến khích việc khám phá những hình thức phát triển mang tính sáng tạo có lợi cho môi trường tự nhiên và xã hội. Giáo dục làm cho chúng ta, với vai trò là một chủ thể trong xã hội và là một thành viên của cộng đồng, hiểu được bản thân mình và những người xung quanh, hiểu được sợi dây gắn kết vô hình giữa chúng ta với môi trường tự nhiên và xã hội rộng lớn. Sự hiểu biết này đóng vai trò làm nền tảng lâu dài và vững chắc cho sự tôn trọng thế giới quanh ta và chính những con người đang sinh sống trong thế giới đó.

 Giáo dục vì PTBV mang theo nó ý nghĩa vốn có là tiến hành những chương trình sao cho phù hợp với điều kiện cũng như văn hoá của từng địa phương. Tất cả các chương trình liên quan đến PTBV trong đó có chương trình Giáo dục vì PTBV khi thực hiện đều phải xét đến điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường của từng địa phương. Chính vì thế, mỗi vùng và mỗi quốc gia trên thế giới có nhiều cách thức thực hiện khác nhau thể hiện trong bốn mũi nhọn của Giáo dục vì PTBV đó là: (1) Thúc đẩy và cải tiến giáo dục cơ bản, (2) Định hướng lại chương trình giáo dục hiện thời để đón đầu PTBV, (3) Phát triển nhận thức và hiểu biết của cộng đồng và (4) Đào tạo. Cụ thể là:

 -     Thúc đẩy và cải tiến giáo dục cơ bản: Tiếp cận giáo dục cơ bản vẫn còn là một vấn đề khó khăn đối với nhiều người, đặc biệt là các em gái và người lớn thất học. Nếu chỉ đơn giản là tăng cường khả năng biết đọc, viết và làm tính như hiện nay nhiều nước đang thực hiện thì không thể tạo ra một xã hội có sự bền vững cơ bản. Thay vào đó, giáo dục cơ bản phải tập trung vào việc truyền đạt kiến thức, kĩ năng, giá trị và các lĩnh vực khác nhằm khuyến khích và hỗ trợ công dân có được một cuộc sống bền vững.

 -     Định hướng lại chương trình giáo dục hiện thời ở tất cả các cấp, bậc học để đón đầu PTBV: Thực hiện cải cách giáo dục từ mầm non đến đại học đòi hỏi phải dựa trên nhiều nguyên tắc, kĩ năng, phương diện hoạt động và các giá trị liên quan đến tính bền vững của một trong ba nhân tố: xã hội, môi trường và kinh tế. Đây là một việc làm quan trọng đối với xã hội hiện nay và mai sau.

 -     Phát triển nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về bền vững: Để đạt được những tiến bộ hướng tới một xã hội bền vững hơn, đòi hỏi mỗi người dân phải nhận thức được các mục tiêu của một xã hội bền vững và phải có kiến thức và kĩ năng để góp phần vào quá trình thực hiện những mục tiêu đó. Nâng cao nhận thức về quyền công dân và tiêu dùng hợp lý có thể giúp cộng đồng và Chính phủ thực hiện được những biện pháp bền vững nhằm phát triển hơn và hướng tới một xã hội bền vững hơn (điều này đã được xây dựng thành mục tiêu rất rõ trong Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam).

-     Đào tạo: Tất cả các ban ngành đều có thể đóng góp vào sự bền vững ở địa phương, vùng và quốc gia. Việc xây dựng những chương trình đào tạo chuyên môn phải làm sao để đảm bảo tất cả các lực lượng lao động trong xã hội đều có kiến thức và kĩ năng cần thiết để thực hiện công việc của mình theo cách thức bền vững như đã được xác định là một nhân tố tích cực của Giáo dục vì PTBV . 

Các nội dung cơ bản

 Mặc dù Chương trình Nghị sự 21 đã xác định rõ những vấn đề quan trọng đòi hỏi các quốc gia trên thế giới cần phải giải quyết. Nhưng khái niệm bền vững luôn luôn tiến triển và thay đổi khi xã hội thay đổi và khi nhận thức cũng như quan niệm của chúng ta về trái đất, tính nhân văn, sự tương tác giữa con người và môi trường theo đó cũng thay đổi. Một sự thay đổi nhỏ như thay đổi về lĩnh vực ưu tiên hay mối quan tâm về bản chất luôn mang tính khu vực cho dù nó đang phản ánh các điều kiện sinh thái hay văn hoá của một địa phương. Kết quả là, khi tính chất của những vấn đề liên quan đến phát triển bền vững thì những người thực hiện công tác giáo dục cho sự phát triển bền vững phải liên tục điều chỉnh nội dung, phạm vi và phương pháp sao cho phù hợp với thời gian và hoàn cảnh.

 Phát triển bền vững (PTBV) là một công việc phức tạp và có mối quan hệ với mọi lĩnh vực của cuộc sống. Trong quá trình lập kế hoạch và triển khai Thập kỉ Giáo dục vì Sự Phát triển Bền vững, điều quan trọng cần phải làm là duy trì những mối quan hệ này nhằm giúp cho con người thông qua quá trình học tập sẽ có nhiều cơ hội được ứng dụng những nguyên tắc PTBV vào cuộc sống của họ; đồng thời giúp họ hiểu được những tác động mà hành vi và thái độ của mình có thể gây ra. Các nội dung cơ bản trong Giáo dục vì PTBV bao gồm:

a) Các nội dung về văn hóa xã hội

 -     Quyền con người: Tôn trọng các quyền của con người là một nhân tố tối cần thiết cho PTBV. Phương pháp tiếp cận này giúp thông tin về các chính sách được xây dựng ở tất cả các cấp, từ đó có thể áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên các quyền của con người trong phát triển. Giáo dục vì PTBV phải trang bị cho con người ý thức được quyền đòi hỏi được sống trong một môi trường bền vững.

 -     Hoà bình và an ninh: Được sống trong một môi trường hoà bình và an ninh là nhân tố hết sức quan trọng đối với sự phát triển của con người. Tuy nhiên các quá trinhg PTBV lại thường bị huỷ hoại bởi xung đột và bất ổn. Hậu quả để lại là những đau thương mà con người phải gánh chịu, các hệ thống y tế hoạt động quá tải, nhà cửa, trường học và có thể là cả cộng đồng bị phá huỷ làm cho nhiều người bị mất nhà cửa và số lượng người đi di tản ngày càng nhiều. Chính vì lẽ đó, Giáo dục vì PTBV phải tìm kiếm và phát triển các giá trị và kĩ năng xây dựng hoà bình trong nhận thức của nhân loại như đã khắc ghi trong Hiến chương Liên Hợp Quốc.

 -     Bình đẳng giới: Bình đẳng giới trong giáo dục là một nội dung của Giáo dục vì PTBV và cũng là mục tiêu đầu tiên trong số 6 mục tiêu của Khuôn khổ Hành động Dakar – Giáo dục cho Mọi người - dự kiến đạt được vào năm 2005. Các vấn đề về giới phải được lồng ghép vào các quá trình lập kế hoạch giáo dục - từ lập kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng cho đến phát triển tài liệu và các quá trình giảng dạy. Trong khuôn khổ Giáo dục vì PTBV, sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của phụ nữ là nhân tố quan trọng, một là để đảm bảo truyền tải các thông điệp Giáo dục vì PTBV bình đẳng và phù hợp; hai là để tạo cơ hội tốt nhất cho việc thay đổi hành vi vì sự phát triển bền vững của thế hệ tương lai.

 -     Đa dạng văn hoá và hiểu biết về giao thoa văn hoá: Học tập là cơ hội lí tưởng nhất để thực hiện và làm sâu sắc hơn sự hiểu biết và lòng tôn trọng đối với sự đa dạng. Kiến thức bản địa là một kho tàng về tính đa dạng và là một nguồn hỗ trợ chủ yếu trong quá trình nhận thức về môi trường và trong cách thức sử dụng chúng sao cho có lợi nhất cho thế hệ hôm nay và mai sau. Đưa những kiến thức này vào quá trình học tập sẽ làm tăng mối liên hệ giữa nhà trường và cộng đồng. Việc sử dụng tiếng địa phương trong giáo dục cùng với những thứ tiếng khác là một nhân tố quan trọng trong quá trình đánh giá và sử dụng những gì có thể học được trực tiếp từ cuộc sống hàng ngày và từ cộng đồng địa phương.

 -     Sức khoẻ: Các vấn đề liên quan đến phát triển, môi trường và sức khoẻ có mối liên hệ mật thiết với nhau. Sức khoẻ yếu sẽ hạn chế sự phát triển  kinh tế và xã hội, gây ra một chu kì bất lợi dẫn đến việc sử dụng một cách không bền vững các nguồn tài nguyên và làm cho môi trường xuống cấp. Những người dân khoẻ mạnh và một môi trường an toàn là những điều kiện tiên quyết của PTBV. Môi trường học đường bản thân nó cũng phải lành mạnh và an toàn. Nhà trường không chỉ đóng vai trò là các trung tâm học tập và giáo dục mà còn phải phối hợp với gia đình và cộng đồng tích cực hỗ trợ cung cấp các dịch vụ và các hình thức giáo dục cần thiết về sức khoẻ.

 -     HIV/AIDS: Đại dịch HIV/AIDS ngày một phát triển với tốc độ nhanh ở Châu Á, đang đe doạ sự PTBV và các quá trình giáo dục. Vấn đề cấp thiết hiện nay đối với Việt Nam là thu thập và phân tích thông tin về những ảnh hưởng tiềm tàng của HIV/AIDS đối với giáo dục và PTBV. Giáo dục là một trong những hi vọng lớn nhất thúc đẩy sự thay đổi về hành vi và hợp tác diệt trừ đại dịch này.

 -     Thể chế: Ở tất cả các cấp từ địa phương, quốc gia và quốc tế, PTBV sẽ được thúc đẩy một cách tốt nhất tại những nơi có cơ cấu thể chế rõ ràng, minh bạch và đóng góp to lớn vào quá trình xây dựng chính sách. Một cơ cấu như vậy sẽ tạo cơ hội tốt nhất cho Giáo dục vì PTBV được đơm hoa kết trái xét trên khía cạnh có sự đóng góp và tham gia đầy đủ của mọi người dân vào quá trình phát triển các thước đo PTBV và các thể chế tốt. Vì lẽ đó, Giáo dục vì PTBV sẽ giúp cho việc xây dựng nội dung của thể chế.

b) Các nội dung về môi trường

 -     Nguồn tài nguyên thiên nhiên (nước, năng lượng, nông nghiệp và đa dạng sinh học): Được xây dựng dựa trên kinh nghiệm giáo dục môi trường hơn 30 năm qua, Giáo dục vì PTBV phải tiếp tục phát huy tầm quan trọng của nó trong việc đón đầu một chương trình  PTBV có quy mô lớn. Đặc biệt xem xét chúng trong mối quan hệ với các vấn đề kinh tế, xã hội sẽ giúp cho người học có thể áp dụng những phương pháp mới trong bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên của thế giới, những thứ thiết yếu cho sự phát triển và sống còn của con người.

 -     Biến đổi khí hậu: Giáo dục vì PTBV phải mang lại cho người học một nhận thức về nhu cầu cần phải có sự thống nhất toàn cầu và cần phải có những biện pháp mạnh nhằm giảm thiểu những nguy hại đối với bầu khí quyển và kiểm soát những tác động có hại của hiện tượng thay đổi khí hậu. Nghị định thư Kyoto được Liên Hợp Quốc thông qua vào năm 1992 đã nhận được sự cam kết của 160 quốc gia về giảm thiểu lượng khí thải. Tuy nhiên, Nghị định này vẫn chưa được thông qua bởi chính các quốc gia phải chịu trách nhiệm về 25% lượng khí các-bon thải ra trên toàn cầu. Giáo dục vì PTBV chính là một phương tiện chủ yếu để xây dựng một cơ chế vận động toàn cầu giúp cho các hoạt động đạt được hiệu quả.

-     Phát triển nông thôn: Thất học, bỏ học, mù chữ và bất bình đẳng giới trong giáo dục có tỉ lệ rất cao tại các vùng nông thôn, cũng tương tự như tỉ lệ  đói nghèo. Sự mất cân đối giữa thành thị và nông thôn về đầu tư cho giáo dục, về chất lượng dạy và học đang ngày một lớn và cần được điều chỉnh. Do đó, các hoạt động giáo dục phải gắn với những nhu cầu cụ thể về kĩ năng và năng lực nắm bắt các cơ hội kinh tế, cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư nông thôn. Một cách tiếp cận giáo dục đa ngành với sự tham gia của người dân thuộc mọi lứa tuổi trong mọi hình thức giáo dục chính quy và không chính quy là cần thiết.

 -     Đô thị hoá bền vững: Các thành phố đang đối diện với những thay đổi kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu như toàn cầu hoá, làm tăng vị thế của các thành phố trong PTBV. Theo đó, một thực tế hiển nhiên là các thành phố phải đối mặt với những thách thức tiềm tàng của PTBV nhưng đồng thời cũng nắm bắt được những cơ hội đầy hứa hẹn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện môi trường ở địa phương, quốc gia và quốc tế.

 -     Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai: PTBV bị thách thức ở những nơi mà cộng đồng dân cư đang phải gánh chịu hay bị đe doạ bởi thiên tai. Các kinh nghiệm và chương trình trước đây cho thấy những tác động hết sức to lớn và tích cực của giáo dục đối với việc giảm nhẹ nguy cơ thảm hoạ, thiên tai. Ví dụ giáo dục trẻ em biết cách đối phó trong trường hợp có lũ lụt, các nhà lãnh đạo học cách cảnh báo kịp thời cho nhân dân và toàn thể xã hội học cách đề phòng trong trường hợp có thiên tai xảy ra. Giáo dục và kiến thức mà giáo dục mang lại đã cung cấp cho xã hội những chiến lược và phương pháp tự cứu và giảm thiểu rủi ro.

c) Các nội dung về kinh tế

 -     Giảm nghèo: Đây là khái niệm tổng quát, hướng các cam kết quốc tế tới sự phát triển trong khuôn khổ các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỉ. Công cụ cơ bản của quá trình lập kế hoạch cảnh quan kế hoạch và thực hiện giảm nghèo chính là các văn bản chiến lược giảm nghèo. Xuất phát từ quan điểm PTBV, giảm nghèo là mối quan tâm cơ bản của nhân tố kinh tế nhưng chúng phải được hiểu trong mối tương quan với các nhân tố khác đó là xã hội, môi trường và văn hoá. Hay nói cách khác các mối quan tâm thuộc phương diện kinh tế, tuy là chìa khoá của PTBV nhưng lại là một nhân tố cấu thành hơn là một mục tiêu tổng quát.

 -     Tinh thần và trách nhiệm tập thể: Phát triển quyền lực kinh tế và những ảnh hưởng về mặt chính trị của các tập đoàn lớn sẽ huỷ hoại những tác động và khả năng đóng góp và sự PTBV. Các vấn đề về thương mại đa phương đang có những ảnh hưởng to lớn đối với PTBV và Giáo dục vì PTBV phải xây dựng nhận thức của các lực lượng tài chính và kinh tế này, làm cho người học có khả năng nâng cao trách nhiệm công dân và tăng cường các hình thức hoạt động thương mại một cách có ý thức và trách nhiệm. Hiệp ước Toàn cầu, một công cụ quốc tế do Tổng Thư kí LHQ để ra đã cung cấp một khung hành động giúp thúc đẩy quyền và trách nhiệm tập thể của công dân, mang các công ty lại gần hơn với các cơ quan LHQ, các tổ chức lao động và toàn thể xã hội nhằm hỗ trợ thực hiện các nguyên tắc  thuộc các lĩnh vực nhân quyền, lao động và môi trường.

-     Kinh tế thị trường: Nền kinh tế thị trường toàn cầu hiện nay đã và đang không góp phần bảo vệ môi trường và gần một nửa người dân trên toàn thế giới không được hưởng lợi từ nền kinh tế này. Một thách thức cơ bản hiện nay là làm thế nào để tạo ra các hệ thống thể chế toàn cầu sao cho vừa hiệu quả về kinh tế, vừa bảo vệ được môi trường mà vẫn đạt được mục tiêu bình đẳng. Hơn nữa, cần phải thúc đẩy một cuộc cách mạng công nghệ nhằm tăng cường đáng kể tính hiệu quả trong sử dụng các nguồn năng lượng, sử dụng các nguồn năng lượng có thể phục hồi, tái chế và giảm lượng chất thải. Bản thân giáo dục là một phần của hệ thống kinh tế đồ sộ và chịu sự tác động của các quy luật cung và cầu, của các hạn mức thuế và các lực lượng kinh tế khác. Nó cũng có vai trò trong một môi trường có tính quy luật đặc biệt. Để Giáo dục vì PTBV tìm thấy chỗ đứng của nó trong các hàng hoá giáo dục, nhằm đáp ứng yêu cầu của các thế lực thị trường thì điều quan trọng là phải tác động đến các quy luật và chức năng hoạt động của thị trường.

Chiến lược thực hiện

 Chiến lược thực hiện GDVPTBV được thể hiện trong việc định hướng, xây dựng tầm nhìn cũng như các vấn đề về xây dựng năng lực, liên kết hợp tác và các vấn đề khác.

  -     Định hướng và xây dựng tầm nhìn: Xây dựng tầm nhìn nhằm làm cho Giáo dục vì PTBV  có thể đi sâu vào thực tiễn hoạt động của từng địa phương, đồng thời nhằm phát triển một cam kết mang tính toàn cầu và một sự thống nhất trong tính đa dạng. Việc xây dựng tầm nhìn cho Giáo dục vì PTBV  ở tương lai liên quan tới quá trình xây dựng Chương trình Nghị sự 21 cấp địa phương của nhiều quốc gia. Công tác định hướng sẽ diễn ra ở tất cả các cấp và có sự tham gia của tất cả các bên có liên quan. Chính phủ và đoàn thể nhân dân nên duy trì đối thoại lâu dài. Ở cấp địa phương, các trường học và các tổ chức đoàn thể, với vai trò là một phần của Giáo dục vì PTBV , nên tham gia vận động chính quyền địa phương quan tâm tới những vấn đề cụ thể trong PTBV.

 -     Đóng góp và làm chủ: Một Thập kỉ mang tính quốc tế như thế này tạo cơ hội xây dựng và phát triển một động lực toàn cầu trong Giáo dục vì PTBV . Tuy nhiên, điều này chỉ có thể làm được nếu các bên có liên quan ở các cấp làm chủ được tầm nhìn của mình. Việc làm chủ này lại cần phải có sự đóng góp và tham gia trong quá trình xây dựng chính sách và lập kế hoạch cho các mục tiêu và hoạt động. Chính phủ có vai trò đặc biệt trong việc triển khai các diễn đàn trao đổi.

 -     Liên kết và hợp tác: Cần phải có cái nhìn rộng mở, phải nỗ lực xây dựng mối liên hệ giữa các sáng kiến, chương trình, nhóm và mạng lưới trong quá trình định hướng các đối tác tham gia vào Thập kỉ Giáo dục vì PTBV , để qua đó Giáo dục vì PTBV  sẽ ngày càng được thúc đẩy và tăng cường. Cần phải chú ý đặc biệt tới việc liên kết Chính phủ với mạng lưới các tổ chức đoàn thể xã hội . Vì Chính phủ có vai trò là cơ quan điều phối trung tâm và có các nguồn lực, còn các tổ chức đoàn thể xã hội  lại có những mối liên hệ từ cơ sở mà thông qua đó các thông điệp về Thập kỉ Giáo dục vì PTBV  có thể được truyền tải xuống từng địa phương.

 -     Xây dựng năng lực và đào tạo: Sử dụng (hay thiết kế) các phương pháp đào tạo và xây dựng năng lực nhằm cung cấp các kĩ năng có thể ứng dụng vào thực tế là một việc làm rất quan trọng. Các lĩnh vực xây dựng năng lực và đào tạo chủ yếu là truyền thông và nâng cao nhận thức, lập kế hoạch, quản lí và đánh giá, đào tạo và đào tạo lại các cán bộ giáo dục, các công cụ phân tích, tài liệu và nội dung giảng dạy cũng như các phương pháp giảng dạy.

 -     Nghiên cứu và đổi mới: Nghiên cứu là nền tảng của quá trình nhận thức những vấn đề mà Giáo dục vì PTBV  cần phải gấp rút giải quyết. Nó còn là nền tảng của quá trình thu thập thông tin để đánh giá và là nền tảng của quá trình tìm kiếm những giải pháp tiến bộ. Nghiên cứu sẽ chủ yếu tập trung vào các vấn đề: nghiên cứu dữ liệu cơ bản để thiết lập những chỉ số đánh giá Thập kỉ Giáo dục vì PTBV ; khám phá bản chất và những phương pháp Giáo dục vì PTBV  cụ thể, những mối liên hệ về khái niệm và thực tiễn của Giáo dục vì PTBV  với các phương diện học tập, với những phương pháp can thiệp khác trong phát triển; những nghiên cứu lâu dài trong đó nêu và phân tích mức độ tác động của Giáo dục vì PTBV  đối với đời sống của cá nhân, cộng đồng và chính sách, thể chế của quốc gia; cơ cấu lại tổ chức, phương thức hợp tác và phương pháp tiếp cận quản lí trong Giáo dục vì PTBV  với trọng tâm là xác định và phổ biến những kinh nghiệm hay.

 -     Công nghệ truyền thông và thông tin: Công nghệ truyền thông và thông tin (CNTT và TT) là huyết mạch của bất kì một phong trào hay hoạt động quốc tế nào chẳng hạn như một Thập kỉ của LHQ. Nó đóng vai trò là phương tiện liên kết các đối tác ở cách xa nhau, lưu trữ dữ liệu, chia sẻ thông tin rất nhanh và hữu hiệu, đồng thời cũng là một phương tiện quản lí một cơ quan hỗ trợ quy mô lớn. Tuy nhiên CNTT và TT vẫn chưa được mọi người tiếp cận một cách rộng rãi- chi phí, cơ sở hạ tầng, việc cung cấp năng lượng và kết nối liên lạc là tất cả những nhân tố có thể ảnh hưởng tới việc liên kết các thiết bị kĩ thuật số. Trong khi chờ đợi con người nghiên cứu những cách thức tiên tiến để làm cho CNTT được tiếp cận rộng rãi thì ở nhiều nơi những công nghệ cũ vẫn sẽ tiếp tục được sử dụng (ví dụ phương tiện truyền thanh) và vì thế chúng sẽ trở nên lâu bền hơn.

 -     Theo dõi và đánh giá: Theo dõi và đánh giá sẽ trở thành một chiến lược chủ chốt nhằm đảm bảo những thay đổi, những vấn đề khác biệt và tác động của Thập kỉ này.

Giáo sư Nguyễn Hoàng Trí - Chủ tịch Ủy ban MAB Việt Nam

Bài viết đăng trên website chính thức Ủy ban MAB Việt Nam - http://mabvietnam.com
Tags:
Tin cùng danh mục
  • Khu DTSQ thế giới miền Tây Nghệ An: Cần biến danh hiệu thành thương hiệu

  • Xây dựng biểu tượng du lịch Nghệ An gắn với “đặc sắc Nghệ An“

  • Mô hình nghiên cứu ứng dụng cộng nghệ tưới nhỏ giọt cho cây cam vùng Phủ quỳ- miền Tây Nghệ An thích ứng với biến đổi khí hậu.

X

Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An

Bạn cần tư vấn ?

Chat Facebook