So sánh sản phẩm
Hôm nay ngày:

Mô hình nghiên cứu ứng dụng cộng nghệ tưới nhỏ giọt cho cây cam vùng Phủ quỳ- miền Tây Nghệ An thích ứng với biến đổi khí hậu.

Vừa qua, tại trụ sở Sở KH&CN Nghệ An, Hội đồng KH&CN tỉnh đã tổ chức nghiệm thu dự án “Ứng dụng tiến bộ KH&CN xây dựng mô hình tưới nước nhỏ giọt cho cây cam tại vùng Phủ Quỳ - miền Tây Nghệ An” do KS Võ Văn Sỹ chủ nhiệm, Trung tâm Giống cây trồng Nghệ An là đơn vị chủ trì. 

Để tiếp cận công nghệ tưới nhỏ giọt áp dụng vào thực tiễn, chúng tôi xin giới thiệu các nội dung chính của đề tài:

TÓM TẮT

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những vấn đề đang được quan tâm ngày càng có tác động mạnh mẽ tới sản xuất nông nghiệp (SXNN) và đời sống của con người ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng như nắng nóng kéo dài, rét hại, bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng… đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động SXNN. Phủ Quỳ là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm  của tỉnh Nghệ An, có điều kiện thổ nhưỡng màu mỡ, thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả. . . song việc thiếu nước tưới, nắng nóng kéo dài, gió lào khô nóng cũng là một trở ngại ảnh hưởng nghiệm trọng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất. Để ứng phó với BĐKH, nắng nóng kéo dài  các cấp, các ngành đã chú trọng nghiên cứu ứng dụng các giải pháp tưới hiện đại, tưới tiết kiệm vào sản xuất. Bài viết này góp phần đánh giá bước đầu hiệu quả của ứng dụng công nghệ tưới nước nhỏ giọt cho cây cam vùng Phủ Quỳ. Qua đó hoàn thiện quy trình công nghệ tưới nước nhỏ giọt cho cây cam tại Nghệ An và khuyến nghị một  một số giải pháp để nhận rộng mô hình góp phần tăng cường khả năng thích ứng của cộng đồng dân cư để phòng ngừa, giảm thiểu tác hại, ổn định và phát triển SXNN trong điều kiện BĐKH

1. Đặt vấn đề

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những vấn đề đang được quan tâm ngày càng có tác động mạnh mẽ tới sản xuất nông nghiệp (SXNN) và đời sống của con người ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng như nắng nóng kéo dài, rét hại, bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng… đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động SXNN.

Nghệ An là tỉnh có thương hiệu “cam Vinh” nổi tiếng trong và ngoài nước, trong đó diện tích cam tập trung chủ yếu ở vùng Phủ Quỳ. Hiện nay diện tích cam vùng Phủ Quỳ khoảng 1.700 ha và tăng  trung bình 15-20% mỗi năm. Ủy Ban nhân dân Tỉnh Nghệ An đã quy hoạch diện tích trồng cam tại vùng Phủ Quỳ lên đến 5.700 ha, tuy nhiên so với nhiều vùng khác trong cả nước thì năng suất vẫn còn thấp.

Một trong những vấn đề mà người dân trồng cam ở Nghệ An nói chung và Phủ Quỳ nói riêng đang phải đối mặt là Hạn hán, nắng nóng kéo dài đã dẫn đến thiếu nước tưới. Thiếu nước tưới không những ảnh hưởng đến năng suất mà còn làm giảm chất lượng, đồng thời làm tăng chi phí sản xuất, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm.

Công nghệ tưới nhỏ giọt đã được nghiên cứu và ứng dụng rất thành công ở nhiều vùng trồng cam trong cả nước như Cao Phong- Hòa Bình; Tỉnh Đồng Nai. Năm 2012-2013, Trung tâm Thủy Lợi miền núi phía Bắc đã nghiên cứu công nghệ tưới nước nhỏ giọt cho cây cam tại huyện Cao Phong- tỉnh Hòa Bình. Qua nghiên cứu cho thấy việc ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt giúp kiểm soát được độ ẩm, chủ động thời điểm tưới cho cây cam, giảm công lao động, giảm 40-60% lượng nước tưới, nâng cao năng suất lên 20-30% so với phương pháp tưới truyền thống.

Phủ Quỳ là vùng trồng cam tập trung, tuy nhiên nước tưới chủ yếu phụ thuộc vào các ao hồ, khe suối, lượng nước ngầm thấp nên rất khó khai thác. Hơn nữa đối với cây cam trong độ tuổi kinh doanh sau thời gian xiết nước cần cung cấp một lượng nước đủ, kịp thời để cây bung hoa, đậu quả, sau đó cần duy trì độ ẩm để hạn chế rụng quả sinh lý, tăng chất lượng cam quả. Để đáp ứng được yêu cầu khắt khe về kỹ thuật, trong đó có khâu tưới nước, giữ ẩm thì việc đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm cho cây cam là một tất yếu trong thực tiễn sản xuất .

Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự đồng ý của các cấp, Trạm giống cây trồng công nghệ cao đã triển khai thực hiện dự án “Ứng dụng tiến bộ KH&CN xây dựng mô hình tưới nước nhỏ giọt cho cây cam vùng Phủ Quỳ-miền Tây tỉnh Nghệ An”

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1. Tình hình nghiên cứu và triển khai công nghệ tưới tiết kiệm ở nước ngoài

   Các hệ thống tưới nhỏ giọt ở Hungary được bắt đầu sử dụng phổ biến từ năm 1968. Các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu thủy lợi ở đất nước này đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc cải tiến áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt cho trên 50 ha của các hợp tác xã nông nghiệp Micsurin vào năm 1973 đạt hiệu quả cao, hệ thống quy mô trên 600 ha cũng được sử dụng công nghệ này. Hiện nay, diện tích Việc nghiên cứu áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước là xu thế chung của quốc tế nhằm thay thế cho các phương pháp, kỹ thuật tưới thông thường. Công nghệ tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt chính là một trong những lựa chọn hàng đầu trong việc thúc đẩy phát triển thủy lợi của nhiều nước trên thế giới.

Theo ước tính của FAO (2004), hiện nay, hầu như các quốc gia trên thế giới ít nhiều đều áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước [1]. Kỹ thuật tưới nhỏ giọt được sử dụng rộng rãi ở các nước công nghiệp phát triển với những ứng dụng về công nghệ vật liệu, điển hình là Mỹ, Isreal, Nhật và Úc. Isreal là một trong những quốc gia nổi tiếng trên thế giới về việc nghiên cứu áp dụng thành công và có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phát triển các kỹ thuật tưới nhỏ giọt. Việc áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt đối với cây ăn quả và các vùng trồng cây thương mại hứa hẹn tiềm năng phát triển lớn.

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy nếu được tưới bằng các phương pháp tưới nhỏ giọt thì năng suất cây trồng tăng lên khoảng 50% và lượng nước tiết kiệm khoảng 40-70% so với các biện pháp tưới thông thường ( được thể hiện ở bảng 01).
2.2 Tình hình nghiên cứu và triển khai công nghệ tưới tiết kiệm ở Việt NamTại Anh, công nghệ tưới tiết kiệm nước xuất hiện từ cuối năm 1940 được áp dụng trong nhà kính. Ở Mỹ nhiều cuộc nghiên cứu các hệ thống, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước đã được tiến hành  nhiều nơi cụ thể là các hệ thống tưới nhỏ giọt được áp dụng hiệu quả cho hơn 600 ha cam quýt ở vùng ven sông của Bang Califomia- Mỹ từ năm 1957-1965. Vào đầu những năm 80, nhiều thực nghiệm về tưới nhỏ giọt cho cây bông đã được thực hiện ở Califomia và Arizona. Hệ thống tưới nhỏ giọt ở đây không những làm tăng năng suất bông một cách đáng kể, mà còn giảm lượng nước tưới và phân bón cần thiết. Ở vùng thung lũng Napa thuộc bang Califomia, các hệ thống tưới nhỏ giọt cho nho được quản lý tốt và  giảm ít nhất 50% lượng nước tưới so với tưới phun mưa.

Tại Anh, công nghệ tưới tiết kiệm nước xuất hiện từ cuối năm 1940 được áp dụng trong nhà kính. Ở Mỹ nhiều cuộc nghiên cứu các hệ thống, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước đã được tiến hành  nhiều nơi cụ thể là các hệ thống tưới nhỏ giọt được áp dụng hiệu quả cho hơn 600 ha cam quýt ở vùng ven sông của Bang Califomia- Mỹ từ năm 1957-1965. Vào đầu những năm 80, nhiều thực nghiệm về tưới nhỏ giọt cho cây bông đã được thực hiện ở Califomia và Arizona. Hệ thống tưới nhỏ giọt ở đây không những làm tăng năng suất bông một cách đáng kể, mà còn giảm lượng nước tưới và phân bón cần thiết. Ở vùng thung lũng Napa thuộc bang Califomia, các hệ thống tưới nhỏ giọt cho nho được quản lý tốt và  giảm ít nhất 50% lượng nước tưới so với tưới phun mưa.

Tại Anh, công nghệ tưới tiết kiệm nước xuất hiện từ cuối năm 1940 được áp dụng trong nhà kính. Ở Mỹ nhiều cuộc nghiên cứu các hệ thống, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước đã được tiến hành  nhiều nơi cụ thể là các hệ thống tưới nhỏ giọt được áp dụng hiệu quả cho hơn 600 ha cam quýt ở vùng ven sông của Bang Califomia- Mỹ từ năm 1957-1965. Vào đầu những năm 80, nhiều thực nghiệm về tưới nhỏ giọt cho cây bông đã được thực hiện ở Califomia và Arizona. Hệ thống tưới nhỏ giọt ở đây không những làm tăng năng suất bông một cách đáng kể, mà còn giảm lượng nước tưới và phân bón cần thiết. Ở vùng thung lũng Napa thuộc bang Califomia, các hệ thống tưới nhỏ giọt cho nho được quản lý tốt và  giảm ít nhất 50% lượng nước tưới so với tưới phun mưa.
 
 

Mô hình tưới nước nhỏ giọt cho cây cam V2, tuổi 6

Đối với Việt Nam công nghệ tưới tiết kiệm nước bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1993 và chủ yếu được thực nghiệm tại các cơ sở sản xuất. Trường Đại học thủy lợi đã nghiên cứu hệ thống tưới cho các vùng trồng cam có nguồn nước khan hiếm từ năm 1993-1995 với quy mô 200 ha tại Phủ Quỳ- Nghệ An ( Dùng đường ổng áp lực thấp, vòi nước mềm do công nhân tự điều khiển). Hệ thống này sau đó được áp dụng ở một số diện tích cây ăn quả, cây công nghiệp của Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả Phủ Quỳ, một số trang trại cà phê ở Lâm Đồng, Sơn La. . . . Hệ thống có hạn chế là hiệu quả chưa cao, còn tốn nhân công, tuổi tho thiết bị ngắn nên đã không mở rộng được trong thực tiễn sản xuất.

Năm 1997, Viện khoa học thủy lợi miền Nam đã thực hiện đề tài cấp nhà nước về “Nghiên cứu các giải pháp công nghệ hiện đại tưới tiết kiệm nước cho các vùng khan hiếm nước”, kết quả đã chế tạo được một số vòi phun mưa bằng kim loại và chất dẻo để chuyển giao vào sản xuất, tuy nhiên chất lượng, tuổi thọ vẫn còn thấp và nhất là hay bị tắc nghẽn đầu nhỏ giọt nên khả năng nhân rộng chưa cao.

Tưới tiết kiệm nước cho các loại cây trồng đã trở nên phổ biến trong điều kiện mới về kinh tế và xã hội ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, một số dự án nghiên cứu ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho các loại cây trồng đã được triển khai ở nước ta như mô hình tưới nhỏ giọt cho 1.5 ha rau quả sạch ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Hà Tây, 65 ha chè ở thị xã Tuyên Quang, 1 ha cây ăn quả ở Núi Cốc, Bắc Thái, 1 ha rau quả của Viện nghiên cứu cây ăn quả ở Gia Lâm, Hà Nội, mô hình tưới nhỏ giọt tại Trung tâm cây giống Phú Hộ - Phú Thọ và 2 ha trồng cây mía ở huyện An Khê tỉnh Gia Lai 3.8 ha trồng cây nho ở Ninh Thuận, 2 ha trồng cây thanh long ở tỉnh Bình Thuận [2], [3], [4], mô hình tưới nhỏ giọt cho cây mía tại Thanh Hóa, Nghệ An. Hiệu quả của việc ứng dụng tưới nhỏ giọt  đã được khẳng định ở nhiều địa phương, đối với nhiều cây trồng trong cả nước.

Theo thống kê sơ bộ, tính đến thời điểm hiện tại, diện tích cây trồng cạn được áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước khoảng 28.447 ha, trong đó, tưới nhỏ giọt 21.207 ha và tưới phun mưa cục bộ 7.240 ha. Nguyên nhân áp dụng tưới tiết kiệm còn hạn chế chủ yếu là do chi phí đầu tư, nhất là đầu tư ban đầu, đối với công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước còn cao so với thu nhập của người dân và đòi hỏi có một kiến thức, trình độ nhất định khi sử dụng, trong khi động lực của người sản xuất chưa đủ lớn (chưa thấy hết được lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế của việc áp dụng công nghệ này so với phương pháp tưới truyền thống) nên chưa mạnh dạn áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước. Ngoài ra, cơ chế, chính sách hỗ trợ cho người nông dân, tổ chức kinh tế, xã hội để thúc đẩy ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tưới tiết kiệm cho cây trồng chủ lực còn chưa hoàn thiện, đồng bộ, chưa tạo động lực cho việc áp dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước trong sản xuất nông nghiệp.

2.3 Nghiên cứu về nhu cầu và giải pháp tưới nước cho cây cam

Cam là loại cây ưa ẩm nhưng không chịu được úng vì rễ của cam quýt thuộc loại rễ nấm (hút dinh dưỡng qua một hệ nấm cộng sinh), do đó nếu ngập nước đất bị thiếu ôxy rễ sẽ hoạt động kém, ngập lâu sẽ bị thối chết làm rụng lá, quả non. Điều này giải thích tại sao trồng cam quýt trên đất bằng cây có tuổi thọ không cao bằng trồng trên đất dốc. 

Tưới nước là biện pháp kỹ thuật quan trọng ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng kinh doanh cây ăn quả nói chung và cây cam nói riêng.

Đối với cây cam ở độ tuổi kiến thiết cơ bản thì luôn luôn phải cung cấp đủ ẩm cho cây sinh trưởng, phát triển một cách tốt nhất.Tổng mức tưới từ 1000 m3/ha/năm đến 1.500 m3/ha/năm.

Đối với cây cam ở độ tuổi kinh doanh, sau thời gian xiết nước để phân hóa mầm hoa, bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 6 năm sau cần chú ý cung cấp đủ độ ẩm kịp thời cho cây cam, hạn chế rụng quả sinh lý và tăng năng suất, chất lượng vườn cam. lượng nước tưới từ 1.500 m3/ha/năm đến 1.800 m3/ha/năm.

 Để cung cấp đủ độ ẩm cho cây cam có các phương pháp tưới: Tưới phun, tưới ngầm, tưới rãnh, tưới ngập và tưới nhỏ giọt, trong đó tưới phun là phương pháp tưới phổ biến nhất hiện nay. Tưới nhỏ giọt là phương pháp tưới có nhiều ưu điểm nổi trội nhất như:

+ Nhu cầu về nước thấp

+ Hệ thống có thể vận hành thường xuyên

+ Rất phù hợp với những vùng có nguồn nước hạn chế

+ Phân bó có thể được cung cấp qua hệ thống tưới

+ Giảm sự rủa trôi hóa chất vào môi trường

+ Giảm chi phí vận hành

+ Kiểm soát chính xác lượng nước và phân bón

+ Độ ẩm đất đạt được mức độ đồng đều và luôn đạt được mức độ ẩm tối ưu cho cây trồng.

+ Vùng rễ tơi xốp, tăng khả năng hô hấp của rễ

+ Tăng hiệu quả hấp thu nước và chất dinh dưỡng

+ Duy trì độ ẩm liên tục dọc theo rễ cây, cho phép duy trì không khí trong vùng ướt.

+ Tập trung rễ trong vùng ướt, phát triển mạnh khối lượng rễ tích cực

+ Ngân chặn sự phát triển độ mặn của đất trong vùng ướt.

+ Giảm sự phát triển của cỏ dại, tiết kiệm nhân công và chi phí diệt cỏ dại.

+ Giảm sự phát sinh của nấm bệnh do độ ẩm trong vườn thấp

Tuy nhiên đây là phương pháp yêu cầu đầu tư lớn nhất, cao so với khả năng của người dân nên mới chỉ được áp dụng vào một số mô hình dự án nghiên cứu, bảo tồn phát triển cam Xã Đoài tại Nghệ An (năm 1997), mô hình tưới nhỏ giọt cho cây cam tại Cao Phong- Hòa Bình. Vài năm trở lại đây đã có một số diện tích đáng kể của người dân tự bỏ vốn đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt cho cây cam tại một số vùng trọng điểm ở Cao Phong- Hòa Bình, Phủ Quỳ- Nghệ An.

Kết quả nghiên cứu một số mô hình ứng dụng tưới nước nhỏ giọt cho cây cam tại Cao Phong- Hòa Bình từ năm 2013 do viện Khoa Học Thủy Lợi triển khai cho thấy. Áp dụng công nghệ nhỏ giọt có thể giảm được 40 – 50% lượng nước tưới, 80 – 90% công tưới. Ngoài ra, có thể quản lý chất dinh dưỡng tạo chất lượng tốt cho quả cam, hình thức quả cam đồng đều. Tổng cộng lại, có thể giảm được 20 – 30% chi phí SX, tăng 10 – 20% năng suất quả cam và 20% lợi nhuận cho người dân trồng cam.

3. Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu Tài liệu thứ cấp được sử dụng, tổng hợp, phân tích trong bài viết này chủ yếu là các tài liệu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan và được thu thập từ địa Phương, Trạm quan trắc khí tượng thủy văn Tây Hiếu. Tài liệu sơ cấp được thu thập thông qua quan sát, đo đếm số liệu của mô hình thí nghiệm. Phương pháp thảo luận nhóm và lấy ý kiến chuyên gia.

Phương pháp xử lý và phân tích tài liệu, thông tin Số liệu tập hợp, tính toán và xử lý bằng phần mềm Excel. Phương pháp phân tích chủ yếu là các phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh. Qua đó tiến hành phân tích, rút ra những nhận định về các kết quả đánh giá thực tiễn và những đề xuất khuyến nghị giải pháp cho giai đoạn tới

4. Kết quả và thảo luận

4.1 Hệ thống tưới nước nhỏ giọt cho cây cam bao gồm các thiết bị chủ yếu như sau:

- Bộ điều khiển trung tâm: Lắp tại vị trí sát nguồn nước bao gồm các thiết bị chủ yếu sau:

+ Máy bơm: sử dụng máy bơm điện 1 pha công suất 10 m3/ giờ tại cột áp 25 m có xuất xử từ ITALI

+ Tủ điện bảo vệ máy bơm  có xuất xứ Việt Nam

+ Đồng hồ đo áp lực nước 6 Bar răng ½” có xuất xứ Netafim

+ Lọc đĩa 2” 120 mesh có xuất xứ Netafim

+ Van xả khí 1” có xuất xứ Netafim

+ Bộ châm phân ¾’ có xuất xứ Netafim

+ Đồng hồ đo lưu lượng nước 2” có xuất xứ Taiwan

+ Phụ kiện lắp đặt có xuất xứ Việt Nam

Hệ thống van khu vực: để kiểm soát áp lực đường ống

+ Van điều áp 1,5” 1,4 Bar

+ Van 60 mm và phụ kiện lắp đặt vào đường ống.

          - Hệ thống đường ống chính và đường ống nhánh: Để dẫn nguồn nước đến dây nhỏ giọt.

+ Đường ống chính: Ống nhựa tiền phong C3, phi 48 chạy từ nguồn nước đến đầu lô

+ Đường ống nhánh: Ống nhưa tiền phong C3, phi 34 chạy từ đầu lô cắt ngang chiều dài lô thành hai phần bằng nhau.

- Hệ thống dây nhỏ giọt: Sử dụng dây nhỏ giọt bù áp, áp lực thấp để phân phối nước đều đặn cho toàn bộ diện tích tưới.

Sử dụng dây nhỏ giọt Pripnet PC DK 16 mm, có độ dày 0,38 mm, áp lực hoạt động 0,4-1,8 bar, tức là dao động trong độ cao từ 4 m đến 18 m lưu lượng nước từng đầu nhỏ giọt vẫn bằng nhau là 1 L/H, khoảng cách lỗ nhỏ giọt 0,4 m. Mỗi hàng cam lắp hai dây nhỏ giọt chạy hai bên, cách gốc 1,5 m. Chiều dài dây nhỏ giọt trung bình cho mỗi gốc là 8 m, lượng nước tưới trung bình cho mỗi gốc 20 lít/giờ. Sử dụng đầu nối để đấu nối nước từ ống nhánh sang dây nhỏ giọt bằng đầu nối chuyên dụng có xuất xứ Netafim. Tổng chiều dài dây nhỏ giọt đã lắp đặt cho 1,0 ha cam là 4.000 m. Toàn bộ diện tích 1,0 ha được chia làm một lần tưới, lượng nước tưới trung bình trong một giờ đồng hồ đạt 10,0 m3.

Thiết bị đo độ ẩm:

Sử dụng sensor đo độ ẩm đất có chiều dài 30 cm và 60 cm đặt cách dây nhỏ giọt 15 cm để kiểm tra độ ẩm tối ưu cho sinh trưởng, phát triển của cây cam. Độ ẩm tối ưu cho cây cam nằm trong khoảng 10-25 centibar.

Tính lượng nước tưới hợp lý cho cây cam:

+ Eto (mm/ ngày) là lượng bốc thoát hơi nước, được đo bằng chậu đo bốc thoát hơi tính theo mm.

+ Kc ( yếu tố cây trồng) phụ thuộc vào độ che phủ trên mặt đất, tuổi cây, sinh khối rễ

+ Etc (mm / ngày) = Eto * Kc : là lượng nước cần phải tưới khi chưa tính lượng mưa.

+ Lượng nước cần cung cấp cho cây = Etc- lượng mưa.

+ Tính lượng nước tưới cho cây cam dựa vào số liệu khí tượng thủy văn của trạm Tây Hiếu trong 5 năm gần nhất .

Định kỳ sau 5 ngày bật hệ thống tưới nước cho cây một lần với lượng nước được tính theo công thức trên, để kiểm tra lại độ ẩm có thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng hay không ta dựa vào đồng hồ đo ẩm độ đất gọi là TENSIOMETER ( đơn vị đo là centibar), ẩm độ đất thích hợp cho sự phát triển cây cam nằm trong giới hạn 10-25.

Cách đọc chỉ số trên căng kế đo độ ẩm:

0-10: Đất bị bão hòa với nước, rễ có thể bị thiếu ô xi: Không tưới.

10- 25: Điều kiện lý tưởng ẩm độ đất: Không tưới.

25-50: Đất khô, phải tưới nước.

50-70: Giơí hạn khô, cây khó khăn trong việc hút nước từ đất: Phải tưới nước.

4.2. Hiệu quả kinh tế  của việc ứng dụng công nghệ tưới nước nhỏ giọt cho cây cam vùng Phủ Quỳ

Từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 12 năm 2015, Trạm giống cây trồng công nghệ cao đã phối hợp với Công ty TNHHMTV nông công nghiệp 3/2 xây dựng thành công mô hình tưới nước nhỏ giọt cho 1,0 ha cam V2 tuổi 8 và 1,0 ha cam V2 tuổi 6. Kết quả theo giõi đánh giá như sau:



Qua bảng 03 và 04 cho thấy dự án triển khai đã đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho người dân, Áp dụng công nghệ tưới nước nhỏ giọt đã nâng cao năng suất lên 24,6% đến 42,2 % so với phương pháp tưới truyền thống. Lợi nhuận thuần đạt từ 58,6 triệu đến 340 triệu đồng/ha/ năm, chỉ sau 1,5 năm cho lô cam V2 tuổi 8 và chưa đầy 1 năm với lô cam V2, tuổi 6 người dân có thể thu lại toàn bộ kinh phí đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt ban đầu. Đây là cơ sở, là mô hình tiêu biểu để người dân học hỏi, áp dụng, nhân rộng ở các vùng trồng cam khác trong tỉnh.

Sử dụng phương pháp tưới nước nhỏ giọt làm giảm lượng nước tưới 42,1 % đến  45,5% so với phương pháp tưới truyền thống. Hơn nữa trong quá trình sản xuất rất thuận tiện, chủ động hoàn toàn trong việc tưới tiêu, bón phân và giảm công lao động, giảm chi phí lao động.

5. Khả năng nhân rộng mô hình.

Trong quá trình triển khai dự án và nhu cầu của thực tiễn sản xuất, kết qủa bước đầu của dự án đã góp phần cho bà con, nhân dân tham quan học tập và áp dụng và thực tiễn sản xuất. Từ năm 2014 đến nay, mô hình đã có hơn 10 lượt các đoàn thể, tổ chức tham quan, học tập và bước đầu đã nhân rộng mô hình tưới nước nhỏ giọt cho cây cam lên 96 ha ở Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân kỳ. . . và 2,0 ha bưởi tại Nam Đàn, Nghĩa Đàn; 3,0 ha chanh tại Nghi Lộc; 51 ha mía tại Quỳ Hợp và Nghĩa Đàn; 33 ha dưa hấu tại Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn và Tân kỳ. . .

Tháng 2 năm 2016, Trung tâm thông tin truyền thông Sở khoa học và công nghệ phối hợp với đài truyền hình Nghệ An quay phóng sự từ nghiên cứu đế sản xuất về hiệu quả của mô hình tưới nước nhỏ giọt cho cây cam, phát vào chuyên đề truyền hình số 4 năm 2016. Với chuyên đề truyền hình khoa học công nghệ giới thiệu kết quả của dự án và hệ thống tưới nước nhỏ giọt cho cây cam, những cơ chế chính sách hỗ trợ trong tương lai, cùng với sự vào cuộc của các cấp, các ngành thì khả năng nhân rộng mô hình trong tương lai là rất lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho sản xuất. Đây là mô hình góp phần thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay và đẩy nhanh công cuộc xây dựng nông thôn mới của tỉnh nhà.

6. Kết luận và kiến Nghị.

6.1. Kết luận:

          + Hệ thống tưới nước nhỏ giọt bù áp có thể tưới được cho cây cam trên mọi địa hình, có thể sử dụng nguồn nước sông, suối, ao, hồ, giếng khoan. . . để tưới cho cây, tuy nhiên cần xử lý nguồn nước nhiễm bẩn, sắt, phèn. . . trước khi tưới.

          + Nên sử dụng các loại máy bơm có công suất từ 10m3/ h đến 30m/3/h để lắp đặt hệ thống, chia thành 1-3 khu tưới để mỗi lần tưới được 1 ha đến 3 ha là phù hợp nhất. Các loại thiết bị chuyên dụng như dây nhỏ giọt, bộ lọc, bộ châm phân. . . ưu tiên lựa chọn của isreal, các thiết bị đồng hồ đo lưu lượng nước, máy bơm, hệ thống ống chính, ống nhánh và phụ kiện có thể sử dụng của Việt nam và các nước khác để hạ giá thành hệ thống.

+ Với cam ở độ tuổi kinh doanh đã khép tán, khi đó dây tưới nhỏ giọt được rải thẳng theo hàng cây, cách gốc cây 1,5 m. Với vườn cam đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, dây nhỏ giọt được quấn thành vòng tròn quanh tán cây với bán kính R từ 1,0 m đến 2.0 m. Tổng chiều dài dây tưới nhỏ giọt từ 4.000 m đến 5.500 m/ha.

+  Chế độ tưới hiệu quả

- Giai đoạn kiến thiết cơ bản: Tổng mức tưới từ 1000 m3/ha/năm đến 1.500 m3/ha/năm.

Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau: tưới từ 3 lần/tháng đến 4 lần/tháng, mức tưới mỗi lần từ 30 m3/lần/ha đến 55 m3/lần/ha, thời gian tưới từ 4,5 h đến 5,5 h/ lần.

Từ tháng 5 đến tháng 9: tưới 1 lần/tháng đến 2 lần/tháng, mức tưới mỗi lần từ 30 m3/lần/ha đến 45 m3/lần/ha, thời gian tưới từ 3,5 h đến 4,5 h/ lần.

- Giai đoạn kinh doanh: lượng nước tưới từ 1.500 m3/ha/năm đến 1.800 m3/ha/năm.

Từ tháng 1 đến tháng 4: tưới từ 4 lần/tháng đến 5 lần/tháng, mức tưới 30 m3/lần/ha đến 65 m3/lần/ha, thời gian tưới từ 3h đến 6,5 h/ lần.

Từ tháng 5 đến tháng 9: tưới 1 lần/tháng đến 2 lần/tháng với mức tưới 30m3/lần/ha đến 45 m3/lần/ha, thời gian tưới từ 3h đến 4,5h/ lần.

Từ tháng 10 đến tháng 12: tưới 3 lần/tháng đến 4 lần/tháng, mức tưới 30 m3/lần/ha đến 55 m3/lần/ha. Trong thời gian cây bắt đầu phân hóa mầm hoa cần xiết nước  nên không tưới nước. Thời gian tưới từ 3h đến 5,5 h/ lần.

Điều chỉnh lịch tưới

- Khi lượng mưa < 10 mm => tưới bình thường.

- Khi lượng mưa từ 10 mm đến 20 mm => giảm 50% lượng nước tưới tức là giảm 1/2 thời gian tưới.

- Khi lượng mưa > 20 mm => không tưới

           +  Sử dụng phương pháp tưới nước nhỏ giọt nâng cao năng suất 24,6%, giảm lượng nước tưới 42,1% cho lô cam V2, tuổi 8 và  nâng cao năng suất 42,2 % và giảm lượng nước tưới 45,5% cho lô cam V2, tuổi 6 so với phương pháp tưới truyền thống.

+ Tưới nước nhỏ giọt giúp giảm tỷ lệ rụng quả sinh lý từ 12,3% đến 23,3% so với phương pháp tưới truyền thống.

+ Ngoài việc tăng năng suất, tưới nước nhỏ giọt làm tăng tỷ lệ cam đẹp, nâng cao chất lượng góp phần tăng hiệu quả kinh tế so với phương pháp tưới truyền thống.

+ Kết quả của dự án bước đầu đã được nhân rộng lên một diện tích khá lớn trên dưới 100 ha và khả năng nhân rộng trong thời gian sắp tới là rất lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người đan và nền kinh tế..

6.2. Kiến nghị:

          Khi đầu tư lắp đặt hệ thống tưới nước nhỏ giọt, Các loại thiết bị chuyên dụng như dây nhỏ giọt, bộ lọc, bộ châm phân. . . ưu tiên lựa chọn của isreal, các thiết bị đồng hồ đo lưu lượng nước, máy bơm, hệ thống ống chính, ống nhánh và phụ kiện có thể sử dụng của Việt nam và các nước khác để hạ giá thành hệ thống.

Để công nghệ tưới nhỏ giọt được nhân rộng nhanh vào thực tiễn sản xuất, nhất là đối với cây cam, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến hiệu quả của mô hình. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ một phần kinh phí ban đầu về vốn để người dân mạnh dạn đầu tư công nghệ tưới nước nhỏ giọt cho cây cam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1], FAO (2004). Công nghệ tưới tiết kiệm nước

[2], Lê sâm (2005). Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, NXB nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh

[3], Phạm Thị Minh Thư (2006). Nghiên cứu công nghệ tưới giữ ẩm cho dứa vùng đồi bắc trung Bộ nhằm nâng cao giá trị thương phẩm, đề tài khoa học cấp bộ.

[4], Nguyễn Quâng trung (2008), nghiên cứu ứng dụng công gnheej tưới tiết kiệm nước cho cây nho và thanh long vùng khô hạn nam trung Bộ, đề tài cấp bộ.

[5], Sổ tay hướng dẫn quy trình công nghệ tưới tiết kiệm nước cho cây trồng cạn của Tổng cục thủy lợi
KS Võ Văn Sỹ- Phó phòng kỹ thuật trung tâm giống cây trồng Nghệ An

 
Tags:
Tin cùng danh mục
  • Khu DTSQ thế giới miền Tây Nghệ An: Cần biến danh hiệu thành thương hiệu

  • Xây dựng biểu tượng du lịch Nghệ An gắn với “đặc sắc Nghệ An“

  • Tổ chức lớp tập huấn Bảo tồn và phát triển cây Bon Bo tại huyện Quế Phong

X

Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An

Bạn cần tư vấn ?

Chat Facebook