So sánh sản phẩm
Hôm nay ngày:

​Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái – Văn Hóa - Lịch Sử trong Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An

Cập nhật ngày 2/7/2020, 10:13:25
Khu Dự trữ sinh quyển thế giới miền Tây Nghệ An (sau đây gọi tắt là Khu SQTG miền Tây Nghệ An) là Khu SQTG có diện tích lớn nhất trong số 9 Khu SQTG của Việt Nam với tổng diện tích 1.299.795 ha trên địa bàn của 9 huyện. Khu SQTG là hành lang xanh nối kết 3 vùng lõi gồm Vườn quốc gia Pù Mát, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống và Khu BTTN Pù Hoạt, tạo nên sự liên tục về môi trường sống và các sinh cảnh nhằm duy trì hiệu quả bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học phong phú của khu vực. Đây cũng là điều kiện quan trọng, tạo đà cho phát triển du lịch bền vững.
Theo Báo cáo đánh giá định kỳ 10 năm hoạt động giai đoạn 2007 – 2017, trong giai đoạn 2007 – 2017, Khu SQTG miền Tây Nghệ An đã đạt được một số thành tựu quan trọng, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí quy định trong đánh giá 10 năm, góp phần vào việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của tỉnh Nghệ An nói riêng và của đất nước nói chung. Đáng chú ý, danh hiệu đáng tự hào “Khu SQTG” đang trở thành 1 thương hiệu lớn thúc đẩy phát triển du lịch không chỉ ở khu sinh quyển mà còn cho cả tỉnh Nghệ An và là điểm đến độc đáo ở Việt Nam. 
Xu hướng phát triển kinh tế và sinh kế cộng đồng
Vùng miền Tây Nghệ An trong đó có 9 huyện, 182 xã của Khu SQTG miền Tây Nghệ An được xác định là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh và đối ngoại của tỉnh Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ; đồng thời, là nơi có vai trò quan trọng về môi trường sinh thái của tỉnh, có tiềm năng, lợi thế về tài nguyên khoáng sản, kinh tế cửa khẩu và du lịch. Nơi đây có diện tích rừng nguyên sinh rộng lớn, là một trong những khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao nhất ở Việt Nam, là vùng bảo tồn thiên nhiên còn giữ được vẻ hoang sơ, nguyên sinh, có thảm thực vật phong phú, đa dạng và nhiều loại động vật quý hiếm – đây là những yếu tố quan trọng nhất để phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.
Từ khi được công nhận là Khu SQTG (2007) cho đến nay, sau 10 năm hoạt động trong vai trò 1 Khu SQTG, du lịch nói riêng và kinh tế nói chung ở  Khu SQTG đã có nhiều thay đổi tích cực. Xu hướng thay đổi cơ cấu các ngành kinh tế chính từ năm 2007 tới nay của 9 huyện miền Tây Nghệ An là theo hướng nông - lâm nghiệp giảm, công nghiệp, xây dựng và thương mại, du lịch tăng. Lâm nghiệp có xu hướng tăng trưởng khá, thể hiện ở diện tích rừng sản xuất tăng, giá trị và sản lượng tăng. Du lịch có tăng trưởng tích cực và tăng đều, đặc biệt tại 3 vùng lõi của Khu SQTG. 
Sinh kế của cộng đồng ở các huyện vùng đệm và vùng chuyển tiếp thay đổi mạnh mẽ. Sau khi ban quản lý khu SQTG miền Tây Nghệ An được thành lập, đã có nhiều sáng kiến phát triển sinh kế cộng đồng theo hướng giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng, thân thiện với môi trường và thích ứng với BĐKH. Các mô hình được triển khai trực tiếp và gián tiếp bởi sự liên kết, phối hợp giữa các Vườn quốc gia, Khu BTTN và chính quyền địa phương, một vài nơi có các dự án quốc tế. Chương trình Nông thôn mới đạt được những thành công quan trọng, giúp cải thiện hạ tầng nông thôn tại các xã nghèo và do đó tạo thuận lợi cho cải thiện sinh kế cộng đồng. Đã có nhiều sáng kiến cộng đồng với hàng chục mô hình sinh kế được triển khai, nhiều mô hình thành công trong kết hợp bảo tồn ĐDSH (cây, con quý hiếm) với tạo thu nhập cho người dân trên cơ sở kết hợp kiến thức bản địa với KH-CN đã được phát huy hiệu quả. 
Mô hình quản lý rừng cộng đồng (hình thức giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn/ bản) với vai trò làm chủ của cộng đồng (sở hữu, quản lý, giám sát và hưởng lợi từ rừng theo các quy ước chung) đã cho thấy những kết quả tích cực nổi bật và đóng góp đáng kể cho bảo tồn và phát triển rừng. Theo đó, thúc đẩy phát triển sinh kế dựa vào rừng, sản phẩm cây dược liệu, du lịch – dịch vụ và nghiên cứu khoa học tại các phân vùng chức năng của khu SQTG.
Đồng quản lý rừng (cộng đồng, chính quyền, doanh nghiệp): rừng được giao cho các hộ gia đình và/hoặc cộng đồng quản lý. Chính quyền địa phương, người dân, lực lượng kiểm lâm, cán bộ VQG, KBT cùng tham gia quản lý và bảo vệ rừng. Hiện tại, phần lớn diện tích rừng của 3 vùng lõi đã được giao khoán cho người dân bảo vệ. Kinh phí cho hoạt động này từ các nguồn như chi trả DVMTR, Nghị quyết 30a, nguồn vốn sự nghiệp kinh tế theo Quyết định 57/2011/QĐ-TTg. Việc tham gia của các hộ dân vào công tác quản lý, bảo vệ rừng đã đóng góp đáng kể cho cải thiện sinh kế, thu nhập của người dân, nâng cao nhận thức cộng đồng và hỗ trợ bảo vệ cũng như tăng độ che phủ rừng.
Sự phong phú của các dịch vụ hệ sinh thái 
Đa dạng sinh học nói chung và các hệ sinh thái nói riêng ở Khu DTSQ miền Tây Nghệ An rất phong phú, đa dạng. Đối với các hệ sinh thái có thể kể đến các hệ sinh thái chính gồm: hệ sinh thái rừng, các hệ sinh thái nước ngọt như sông ngòi, lòng hồ… Trong đó các hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới là hệ sinh thái nổi bật nhất, với các kiểu thảm thực vật sau: Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới, Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa trên núi đá vôi, Kiểu rừng hỗn giao gỗ nứa, Kiểu rừng tre nứa, Kiểu trảng cây bụi và trảng cỏ, Kiểu rừng trồng.
Quần thể Rừng SA MU Dầu Khu BTTN Pù Hoạt
Dịch vụ hệ sinh thái của Khu dự trữ Sinh quyển miền Tây Nghệ An có đầy đủ bốn loại: dịch vụ hỗ trợ (chu kỳ dinh dưỡng, ĐDSH), dịch vụ cung cấp (gỗ, lâm sản ngoài gỗ, nước,…), dịch vụ điều hòa (điều hòa nguồn nước, chất lượng không khí), dịch vụ văn hóa (cung cấp cảnh quan tươi đẹp, không gian văn hóa).
Dịch vụ hệ sinh thái của Khu dự trữ Sinh quyển miền Tây Nghệ An có đầy đủ bốn loại: dịch vụ hỗ trợ (chu kỳ dinh dưỡng, ĐDSH), dịch vụ cung cấp (gỗ, lâm sản ngoài gỗ, nước,…), dịch vụ điều hòa (điều hòa nguồn nước, chất lượng không khí), dịch vụ văn hóa (cung cấp cảnh quan tươi đẹp, không gian văn hóa). 
Tiềm năng du lịch
Các đặc trưng về sự giàu có, phong phú của đa dạng sinh học và tính đa dạng, độc đáo về văn hoá là nguồn lực tự nhiên, văn hoá nổi bật nhất của Khu SQTG miền Tây Nghệ An và là tiềm năng, lợi thế lớn cho phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, cộng đồng. Các loại hình du lịch hiện nay đang được khai thác và có nhiều triển vọng phát triển, bao gồm: 
1) Du lịch sinh thái, tham quan thắng cảnh: Tham quan hệ sinh thái Vườn Quốc gia Pù Mát, thác Kèm (Con Cuông); 
2) Du lịch văn hoá – cộng đồng, tham quan hệ sinh thái làng, bản xen lẫn các suối nước, ruộng bậc thang của người Thái, người Đan Lai ở Con Cuông, Quỳ Châu, Quế Phong; 
3) Du lịch mạo hiểm – khám phá rừng VQG Pù Mát, KBTTN Pù Hoạt, KBTTN Pù Huống; 
4) Du lịch nghiên cứu khoa học: Quan sát và chụp ảnh động, thực vật… Các sản phẩm bản địa như các bài thuốc quý, thủ công mỹ nghệ được khai thác nguyên liệu từ tự nhiên (thổ cẩm, hàng đan lát thủ công..), các sản vật đặc thù (Chanh leo, Thảo đậu khấu, Cam ..) có tính hấp dẫn cao đối với du khách. 
Khoảng từ năm 2010, hoạt động du lịch ở khu vực Khu SQTG có sự chuyển biến rõ nét. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch đang dần được đầu tư với sự tham gia của doanh nghiệp. Trong giai đoạn 2011-2016, toàn vùng Tây Nghệ An đã có thêm trên 60 cơ sở lưu trú được đưa vào sử dụng, du lịch tăng trưởng bình quân 10-12%/năm, doanh thu từ du lịch của 9 huyện, thị miền Tây Nghệ An giai đoạn 2011–2015 liên tục tăng. Đề án phát triển du lịch miền Tây Nghệ An đang được Sở Du lịch xây dựng theo hướng mở rộng các tuyến điểm du lịch, chú trọng vào loại hình du lịch sinh thái, văn hoá và tăng cường quảng bá đến thị trường khách quốc tế.

                                 Đảo Chè-Thanh Chương                                                          Thác Sao Va - Quế Phong

              Đền Bạch Mã-Thanh Chương                                                                       Lễ Hội Đền Chín Gian - Quế Phong
Hoạt động du lịch – dịch vụ trong Khu SQTG
Kể từ năm 2007, sau khi được công nhận là Khu SQTG, hoạt động du lịch tại khu vực miền Tây Nghệ An có nhiều bước phát triển, góp phần thúc đẩy kinh tế các địa phương, đặc biệt tại các huyện Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Hợp.
Cho đến năm 2018, vùng miền Tây Nghệ An đã xây dựng được một số điểm mô hình du lịch cộng đồng rất thu hút khách du lịch như: Bản Khe Rạn (huyện Con Cuông), bản Nưa, bản Xiềng (huyện Con Cuông); bản Hoa Tiến (huyện Quỳ Châu) và một số tuyến du lịch kết nối các điểm du lịch nội vùng, nội tỉnh. Tuy nhiên, con số lượt khách đến du lịch trong thời gian gần đây còn ít , chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế sẵn có của Khu SQTG. 
Trong giai đoạn 2011-2015 lượng khách du lịch đến tham quan, du lịch vùng miền Tây Nghệ An tăng trưởng bình quân 10-12%/năm, riêng năm 2015 lượng khách đạt 320.575 lượt. Doanh thu từ du lịch của 9 huyện, thị miền Tây Nghệ An giai đoạn 2011–2015 tăng trưởng liên tục, từ 56.903 triệu đồng năm 2011 lên 72.393 triệu đồng năm 2015 (Cục Thống kê Nghệ An, 2015).
Trong giai đoạn 2007-2010 và 2011-2016: cơ sở hạ tầng du lịch mà chủ yếu là mạng lưới đường giao thông của miền Tây Nghệ An được đầu tư và nâng cấp, tạo nhiều thuận lợi cho phát triển KT-XH nói chung và du lịch nói riêng. Nhiều tuyến đường được đầu tư xây dựng mới, hoàn thành và đưa vào sử dụng. So với năm 2006 thì hiện nay hệ thống lưới điện đã được đầu tư, đã cơ bản hoàn thành việc đưa điện phục vụ đến các khu, điểm du lịch trong vùng – đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp thúc đẩy phát triển du lịch trên địa bàn Khu SQTG. 
Hoạt động xúc tiến, quảng bá cho du lịch ở Khu SQTG đang từng bước mang lại thành quả, thúc đẩy cho các hoạt động du lịch – thương mại – dịch vụ trong vùng phát triển. Tháng 4 năm 2018, tại Khu du lịch Sông Giăng Pha Lài, Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh Nghệ An, Công ty Đầu tư Du lịch PhucGroup, chi nhánh Con Cuông và Khu du lịch Sông Giăng Pha Lài, Công ty TNHH Dịch vụ Du lịch VSC tổ chức ký kết phối hợp quảng bá, xúc tiến du lịch. Thỏa thuận hợp tác quảng bá, phát triển du lịch cộng đồng sẽ góp phần phát triển kinh tế – xã hội của các huyện trong Khu SQTG miền Tây Nghệ An và nâng cao vai trò, hình ảnh của điểm đến nhiều hấp dẫn này. Theo đó, các bên liên quan tăng cường trao đổi khách về các huyện miền Tây Nghệ An, tuyên truyền, giới thiệu để thu hút khách nội tỉnh, ngoại tỉnh và khách quốc tế đến miền Tây Nghệ An, liên kết, hỗ trợ lẫn nhau để phát huy lợi thế tiềm năng du lịch của địa phương, khai thác nguồn lực một cách hợp lý, tạo động lực phát triển du lịch, góp phần mở rộng và phát triển thị trường.
Bản đồ tổ chức không gian, khu, tuyến điển du lịch
(Nguồn: Sở Du lịch tỉnh Nghệ An)
Tại Khu SQTG đã bước đầu hình thành và xây dựng được một số sản phẩm du lịch bao gồm: Các điểm du lịch văn hoá lịch sử như bia Ma Nhai, cây đa Cồn Chùa (Con Cuông), đình Võ Liệt, đền Bạch Mã (Thanh Chương), đền Chín gian (Quế Phong), Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Quỳ Châu (Quỳ Châu), đền Chọong – Quỳ Hợp, đền Vạn - Cửa Rào (Tương Dương)...; các làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm Bản Xiềng (Con Cuông), dệt thổ cẩm bản Hoa Tiến (Quỳ Châu); du lịch cộng đồng tại bản Nưa, bản Yên Thành, bản Khe Rạn (Con Cuông), bản Hoa Tiến (Quỳ Châu); các điểm du lịch danh lam thắng cảnh: thác Khe Kèm, Sông Giăng - Khe Khặng, suối nước Mọc (Con Cuông), thác Sao Va, thác 7 tầng (Quế Phong), hang Bua, hang Thẩm Ồm, Thẩm Chạng (Quỳ Châu);…. 
Ở một số làng, bản người dân tộc thiểu số đã có những hộ dân có thu nhập từ việc nấu ăn, đưa đón, phục vụ khách tham quan hoặc bán hàng thủ công (thổ cẩm, tre đan, nông sản địa phương). Người dân, đặc biệt là người bản địa đã bắt đầu được hưởng lợi từ các giá trị, tài nguyên thiên nhiên, văn hoá của Khu SQTG.
Trong giai đoạn 2011-2016, toàn vùng đã có thêm trên 60 cơ sở lưu trú được đưa vào sử dụng, đưa tổng số cơ sở lưu trú có trên địa bàn là 127 khách sạn, nhà nghỉ với 1.378 phòng, có khả năng phục vụ trên 800.000 lượt khách hàng năm (Sở Du lịch tỉnh Nghệ An, 2017).
Du lịch bước đầu phát triển đã góp phần thúc đẩy kinh tế các địa phương, đặc biệt tại các huyện Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Hợp. Ở một số làng, bản người dân tộc thiểu số đã có những hộ dân có thu nhập từ việc nấu ăn, đưa đón, phục vụ khách tham quan hoặc bán hàng thủ công (thổ cẩm, tre đan, nông sản địa phương). Người dân, đặc biệt là người bản địa đã bắt đầu được hưởng lợi từ các giá trị, tài nguyên thiên nhiên, văn hoá của Khu DTSQ (Minh, 2016)
Đến 2018, một số tour du lịch mới đã bước đầu được khai thác, điển hình như: tour du lịch khám phá sông Giăng - Bản Cò Phạt - Bản Búng; tour du lịch sinh thái tham quan VQG Pù Mát; tour du lịch sinh thái và tham quan tìm hiểu văn hoá cộng đồng tại Con Cuông, Quỳ Châu, Quế Phong; tour du lịch văn hoá lễ hội bước đầu được hình thành như Lễ hội Hang Bua, Lễ hội Đền Chín Gian, Lễ hội Uống nước nhớ nguồn; tour du lịch quốc tế theo tuyến đường 7 đi Cánh Đồng Chum (Xiêng Khoảng) đi Luang Prabang (Lào). 
Tỉnh Nghệ An đã có chủ trương phát triển đô thị theo hướng sinh thái và dự kiến thí điểm tại huyện Con Cuông cũng như định hướng cho các huyện, thị khác. Theo đó, du lịch sinh thái và các mô hình kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh sẽ là điểm nhấn quan trọng trong phát triển bền vững ở Khu SQTG.
Về quy hoạch và khai thác tài nguyên du lịch ở miền Tây Nghệ An
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2020 đã xác định hai trung tâm du lịch quan trọng của vùng miền Tây Nghệ An, bao gồm trung tâm du lịch Vườn Quốc gia Pù Mát và Trung tâm du lịch văn hóa - sinh thái Quỳ Châu - Quế Phong. Vì vậy, thời gian qua công tác quy hoạch khai thác phát triển du lịch Miền Tây Nghệ An đã triển khai được một số bước đi cơ bản như:
- Xây dựng dự thảo Đề án khai thác du lịch, dịch vụ Vườn Quốc gia Pù Mát
- Quy hoạch một số khu, tuyến, điểm du lịch của vùng nhằm bảo vệ tài nguyên môi trường như: Quy hoạch các điểm dịch vụ trên tuyến du lịch sinh thái sông Giăng (đoạn đập Phà Lài – bản Cò Phạt), Khu du lịch Thác Kèm thuộc Vườn quốc gia Pù Mát (huyện Con Cuông), Khu du lịch sinh thái thác Xao Va (Quế Phong) đã được phê duyệt và từng bước đầu tư khai thác du lịch. 
- Đã và đang hình thành, phát triển các làng nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số để sản xuất hàng hoá và phục vụ du lịch như: Làng nghề dệt thổ cẩm Bản Nưa (Con Cuông), bản Hoa Tiến (Quỳ Châu),... 
- Hiện nay, một số huyện, thị xã đã xây dựng đề án phát triển du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn: Tương Dương, Con Cuông, Quế Phong, Quỳ Châu...
Tháng 1 năm 2018, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành QĐ 11/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án làng nghề phát triển làng nghề và làng có nghề trên địa bàn miền Tây Nghệ An đến 2020 với mục tiêu Góp phần thúc đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH nông thôn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng gía trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ, tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn, miền núi, góp phần phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An theo hướng bền vững, phát huy tốt bản sắc văn hóa các dân tộc gắn liền với xây xựng nông thôn mới. Bên cạnh đó, Đề án sẽ hướng “Phát triển làng nghề và làng có nghề miền Tây trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đa dạng hóa sản phẩm về mẫu mã, kiểu dáng, nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh; đồng thời chọn lọc, lựa chọn phát triển làng nghề và làng có nghề của các địa phương có hiệu quả kinh tế cao phù hợp với điều kiện của mỗi địa phương và gắn với việc bảo vệ môi trường, đồng thời quan tâm bảo tồn một số làng nghề gắn với phát triển dịch vụ du lịch.” (QĐ 11/QĐ-UBND tỉnh Nghệ An, 2018).
Một số khó khăn, hạn chế trong phát triển du lịch ở Khu SQTG 
So với một số tỉnh trong cả nước, hiện tốc độ phát triển du lịch ở miền Tây Nghệ An nói chung và khu vực Khu SQTG miền Tây Nghệ An nói riêng  còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng rất lớn về thiên nhiên và văn hoá - nhân văn. Nhiều hoạt động du lịch còn mang tính tự phát; thiếu quy hoạch cụ thể và sản phẩm du lịch chưa đa dạng, thiếu hấp dẫn. Bên cạnh đó, hạ tầng du lịch dù đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Các cơ sở kinh doanh dịch vụ hầu hết có quy mô nhỏ lẻ, manh mún, cơ sở vật chất hạn chế và chất lượng phục vụ thấp. Hiệu quả quản lý nhà nước còn hạn chế, mối quan hệ phối hợp giữa các cấp, ngành, các bên liên quan, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, doanh nghiệp và cộng đồng chưa chặt chẽ. Đặc biệt, chất lượng nguồn nhân lực hạn chế, thể hiện ở sự hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, văn hóa ứng xử chưa đáp ứng được yêu cầu. 
Xét trên khía cạnh pháp lý, hoạt động kinh doanh du lịch nói chung và du lịch sinh thái ở Khu SQTG miền Tây Nghệ An, đặc biệt là ở VQG Pù Mát và 2 Khu BTTN mặc dù đã được đề cập đến ở định hướng, kế hoạch chung của tỉnh nhưng trong quá trình tổ chức triển khai xuất hiện nhiều khoảng trống, khó khăn về mặt chính sách, chẳng hạn: Việc tự tổ chức, cho thuê môi trường rừng, hoặc/và liên kết kinh doanh du lịch sinh thái rất khác biệt giữa các đơn vị khu bảo tồn, và giữa các địa phương trong cả nước; phụ thuộc vào quan điểm và chính sách thu hút đầu tư của mỗi địa phương; Cơ chế tài chính hiện hành (huy động, sử dụng các nguồn tài trợ vốn; phân bổ nguồn thu; chia sẻ lợi ích...) chưa được xác định rõ,kể cả ở cấp quốc gia và riêng tỉnh Nghệ An, do vậy chưa tạo động lực thúc đẩy các vùng lõi của Khu SQTG (VQG Pù Mát và 2 Khu BTTN Pù Huốngm Pù Hoạt) phát triển các hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái; Hiện tỉnh Nghệ An chưa có chiến lược tổng thể phát triển và du lịch sinh thái, du lịch bền vững theo định hướng thị trường (Market-oriented Ecotourism) và cũng chưa có chiến lược thúc đẩy công tác bảo tồn đa dạng sinh học dựa trên nền tảng phát triển du lịch sinh thái. Đây là những khó khăn, rào cản lớn về mặt chính sách, gây khó khăn cho du lịch sinh thái bền vững ở Khu SQTG nói riêng và du lịch miền Tây Nghệ An nói chung.
Điệp Văn-Thư ký BQL Khu DTSQ miền Tây Nghệ An
Tags:

Chat Facebook